Thứ Năm, 21 tháng 11, 2013

VIỆN TRỢ QUÂN SỰ CỦA CÁC NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA CHO VIỆT NAM TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC (1954 - 1975)


Thiếu tá, ThS. NGUYỄN VĂN QUYỀN*
Thắng lợi vĩ đại của dân tộc ta mùa Xuân 1975 là thành quả tổng hợp của nhiều nhân tố chủ quan và khách quan, trong nước và quốc tế. Bên cạnh sự lãnh đạo và chỉ đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng, sự nỗ lực vượt bậc của toàn thể quân và dân ta trong suốt những năm đương đầu chống lại cuộc chiến tranh khốc liệt do đế quốc Mỹ gây ra, chúng ta không thể không kể tới sự giúp đỡ to lớn về mặt vật chất kỹ thuật - hậu cần của bạn bè quốc tế, đặc biệt là từ các nước XHCN. Đảng ta, coi: "… đó là một nhân tố quan trọng góp phần quyết định vào thắng lợi của nhân dân ta"[1].

Công tác bảo đảm hậu cần - kỹ thuật cho các hoạt động tác chiến của lực lượng vũ trang trong chiến tranh giữ vai trò cực kỳ quan trọng. Có thể nói, nó quyết định tới thắng lợi hay thất bại trên chiến trường, nhất là trong những điều kiện chiến tranh hiện đại với một đối thủ có tiềm lực mạnh gấp nhiều lần về mọi mặt như Quân đội Mỹ, với quy mô và cường độ tác chiến ngày càng gia tăng. Do đó, ngay khi bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược, về đường lối đối ngoại, Đảng ta chủ động xác định cần phải: "tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của nhân dân các nước đối với sự nghiệp củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước"[2].
Với tinh thần quốc tế vô sản trong sáng, trách nhiệm với đồng minh trong cùng hệ thống, các nước XHCN đã hết sức ủng hộ Việt Nam. Trong số tiền và vật chất giúp Việt Nam thì viện trợ quân sự không hoàn lại chiếm tỷ trọng lớn, chủ yếu là các loại vũ khí, thiết bị chiến tranh hiện đại như: các loại pháo, tàu chiến, tên lửa, máy bay… và giúp xây dựng các cơ sở công nghiệp quốc phòng.
Trong 10 năm, từ năm 1954 đến năm 1964, Việt Nam đã được các nước XHCN giúp 119.790 tấn vũ khí, đạn dược, trang thiết bị đồng bộ, lương thực, thực phẩm, thuốc men, y cụ… Cụ thể, gồm một số loại chính: súng bộ binh 415.584 khẩu, súng chống tăng 5.621 khẩu, súng cối các loại 2.542 khẩu, pháo hoả tiễn 24 khẩu, pháo mặt đất 1.023 khẩu, súng máy cao xạ 639 khẩu, pháo cao xạ 1.024 khẩu, máy bay chiến đấu 32 chiếc, 46 tàu hải quân chiến đấu, 165 xe tăng các loại, 166 xe bọc thép, 552 xe xích kéo pháo, 4.760 xe vận tải và kéo pháo, 198 xe chuyên dùng khác, 201 xe máy công trình, 8.486 chiếc xe và máy vô tuyến điện, 19.134 máy tổng đài và tải ba điện thoại, 8.658km dây điện thoại dã chiến, 278.450 bộ quân trang đồng bộ, 7 bộ thiết bị toàn bộ…[3].
Với sự giúp đỡ to lớn đó, lực lượng vũ trang Việt Nam được bổ sung kịp thời các loại vũ khí và trang thiết bị chiến tranh bị hao hụt sau 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Nếu như năm 1954, sau khi miền Bắc hoàn toàn giải phóng, lực lượng vũ trang cả nước tập hợp lại, tổng số vũ khí trang bị của Quân đội ta có số loại chính: 14.089 khẩu súng trường, 2.930 khẩu súng tiểu liên, 1.494 khẩu súng trung liên, 185 khẩu súng đại liên, 32 khẩu súng badôka 90mm, 78 khẩu súng ĐKZ 57mm, 274 khẩu súng cối 60mm, 135 khẩu súng cối 82mm Trung Quốc, 150.140 quả lựu đạn, thì chỉ 5 năm sau, tới cuối năm 1960, nhờ sự giúp đỡ của các nước XHCN, thực lực vũ khí và trang bị của lực lượng vũ trang ta đã tăng lên đáng kể, bao gồm: súng vũ khí nhẹ bộ binh là 91.806 khẩu (súng ngắn, súng trường, tiểu, trung, đại liên, trọng liên, badôka) loại mới. Số vũ khí này đủ trang bị cho 7 sư đoàn, 4 lữ đoàn, 1 trung đoàn bộ binh, trường lục quân, các quân khu theo biên chế thời chiến. Ngoài ra còn 99.025 khẩu súng cũ (chất lượng còn 50%) trang bị cho dân quân. Pháo mặt đất loại mới tăng lên 1.925 khẩu và 943 khẩu pháo loại cũ; pháo cao xạ có 670 khẩu (đã trang bị cho 10 tiểu đoàn cao xạ thuộc các sư, lữ đoàn bộ binh, 2 trung đoàn pháo cao xạ 100mm và 57mm, 3 trung đoàn cao xạ 88mm và 90mm, 2 trung đoàn cao xạ 85mm và 37mm, 2 trung đoàn cao xạ 57mm, số 20mm còn lại trang bị cho Bộ đội Hải quân và lực lượng phòng thủ biển); 28 máy ra đa trang bị cho 2 trung đoàn; về khí tài thông tin, hữu tuyến điện trang bị đáp ứng được 80%, vô tuyến điện trang bị đáp ứng 50% nhu cầu biên chế; về phương tiện công binh ta đã có 1.288m cầu vượt sông; về phương tiện phòng hoá, ta đã trang bị đáp ứng được 1/4 phương tiện trinh sát và 1/2 phương tiện tiêu độc, đủ phương tiện phun lửa; 6.279 xe ô tô, máy kéo các loại; về đạn, đã đáp ứng được 1,2 cơ số đạn con, trên dưới 2 cơ số đạn pháo mặt đất, khoảng 3 cơ số đạn pháo cao xạ; về không quân có 17 máy bay vận tải, 7 máy bay thể thao, 3 máy bay liên lạc, 2 trực thăng,
8 máy bay huấn luyện; về hải quân, có 2 tàu tuần tiễu, 4 tàu săn ngầm, 3 trạm ra đa.
Theo phương hướng phát triển trên và đặc biệt là trước yêu cầu chi viện cho chiến trường miền Nam kể từ sau khi Nghị quyết Hội nghi Trung ương 15 (1959) ra đời, quyết định chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng miền Nam, chủ trương của Đảng là: "Ở miền Nam, muốn thay đổi lực lượng so sánh giữa ta và địch để giành thắng lợi có tính chất quyết định, ngoài việc tích cực phát triển lực lượng chính trị của ta, cần phải ra sức xây dựng lực lượng vũ trang đủ mạnh để tiêu diệt nhiều sinh lực địch… cần phải giải quyết các vấn đề về kỹ thuật, chiến thuật, chỉ đạo tác chiến, trang bị, cung cấp cho bộ đội"1. Nhằm tăng nhanh tiềm lực quốc phòng, đủ sức đối phó với Mỹ khi chúng leo thang và mở rộng chiến tranh ra cả nước, chúng ta tiếp tục đặt vấn đề với Liên Xô, Trung Quốc và các nước XHCN anh em khác tăng cường viện trợ quân sự cho Việt Nam (do khả năng bảo đảm các mặt trong nước của ta rất hạn chế).
Nhờ những chủ trương, biện pháp đúng đắn đó và trước yêu cầu của Việt Nam, các nước XHCN tiếp tục tăng cường viện trợ quân sự của cả về số lượng và chất lượng cho Việt Nam. Tính tới thời điểm cuối năm 1965, cả nước bước vào chống chiến lược "chiến tranh cục bộ", do được các nước XHCN giúp mà vũ khí và trang bị của các lực lượng vũ trang Việt Nam tiếp tục tăng lên nhiều so với những năm trước đó.
Về vũ khí nhẹ bộ binh, tổng cộng bộ đội chủ lực đã được trang bị 235.900 khẩu. Trong số này, đại bộ phận là kiểu mới nhất do các nước XHCN viện trợ (chiếm hơn 90%). Hầu hết các trung đoàn, sư đoàn bộ binh và các binh chủng toàn quân được trang bị đủ số súng bộ binh mới. Lực lượng vũ trang các địa phương được trang bị súng bộ binh kiểu cũ nhưng chất lượng còn tốt với lượng đạn đầy đủ. Tổng số súng dùng trang bị cho lực lượng dân quân du kích 265.000 khẩu, đã trang bị 185.000 khẩu (trung bình 30 khẩu/1 xã), ngoài ra, chúng ta còn dự trữ được 80.000 khẩu.
Về các loại pháo và cối mặt đất, toàn quân đã trang bị được trên 5.000 khẩu với lượng đạn đầy đủ từ 3 tới 5 cơ số. Trong số này, đại bộ phận là các loại pháo và cối mới do các nước XHCN chế tạo; ngoài ra, Quân đội ta còn 434 khẩu do các nước tư bản sản xuất (pháo lựu 105mm, sơn pháo 75mm, pháo chống tăng 75mm, pháo bờ biển 76,2mm và pháo 105mm loại cũ, chất lượng kém, nguồn cung cấp đạn khó khăn).
Về xe tăng và xe bọc thép, toàn quân trang bị được hơn 300 chiếc, trong đó có 165 chiếc T34, 87 chiếc T54, 88 chiếc lội nước, 16 pháo tự hành, 8 cao xạ 57mm tự hành, 2 chiếc xe tăng bắc cầu và 157 chiếc xe bọc thép, trong đó có 35 xe lắp súng cao xạ 14,5mm hai nòng, còn lại lắp súng đại liên; số xe tăng và xe bọc thép này hầu hết đã qua sử dụng.
Về súng máy cao xạ, tên lửa và máy bay, với số đã có và sẽ tiếp nhận theo kế hoạch viện trợ 1964 - 1967, lực lượng vũ trang ta sẽ có tổng số gần 4.000 khẩu súng pháo cao xạ, đủ trang bị cho 21 trung đoàn cao xạ (57mm, 75mm, 100mm); 75 tiểu đoàn 37mm; 100 tiểu đoàn (12,7mm và 14,5mm) với lượng đạn từ 6 đến 8 cơ số. Máy bay gồm gần 200 chiếc MiG các loại, đủ trang bị cho 6 trung đoàn. Tên lửa phòng không gồm ba trung đoàn với 72 bệ phóng và hơn 400 quả đạn. Ra đa trinh sát và dẫn đường có tổng số 118 bộ (phần lớn là loại trinh sát máy bay ở tầm trung bình và tầm cao) đủ để trang bị cho bộ đội và tăng thêm nguồn dự trữ.
Báo cáo tình hình trang bị của Bộ Tổng Tham mưu Quân đội ta đánh giá: "Những trang bị vũ khí của Quân đội ta chủ yếu dựa vào viện trợ các nước; nền kinh tế trong nước bảo đảm cho trang bị vũ khí của Quân đội không đáng kể, chủ yếu là bảo đảm ăn, mặc, ở cho Quân đội"[4].
Cũng nhờ các nước XHCN giúp, chúng ta mới có điều kiện xây dựng và điều chỉnh cơ cấu các ngành, quân, binh chủng hợp lý hơn. Nhiều binh chủng mới được thành lập như: Không quân, Hải quân, Phòng hoá… Các học viện, nhà trường được xây dựng và đào tạo theo phương hướng chính quy và hiện đại. Báo cáo kiểm điểm 4 năm xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng (1954 - 1958) của Bộ Quốc phòng Việt Nam khẳng định: "Trong 4 năm, chúng ta đã chuyển từ một quân đội phân tán trên khắp các chiến trường Đông Dương (trừ một số đơn vị đã tập trung trong kháng chiến) tổ chức thành một quân đội tương đối có nền nếp, quy củ, tổ chức thành những đơn vị lớn, gồm nhiều binh chủng; bắt đầu xây dựng các quân chủng; tăng cường trang bị; xây dựng hệ thống các nhà trường; số chất lượng cán bộ đều tăng"[5].
Hàng loạt các cơ sở công nghiệp quốc phòng của Việt Nam được xây dựng với sự giúp đỡ về vốn, tài liệu khoa học kỹ thuật; dưới sự hướng dẫn và giám sát của các chuyên gia kỹ thuật các nước XHCN... Theo báo cáo sơ bộ của Đoàn đại biểu kinh tế Chính phủ do Phó Thủ tướng Lê Thanh Nghị dẫn đầu đi đàm phán với các nước XHCN thì chỉ tính riêng trong đợt tháng 7 năm 1965, các nước XHCN đã giúp Việt Nam: "Hoàn chỉnh thêm một bước các cơ sở sửa chữa lớn trong Quân đội cộng với số cơ sở đã có sẵn, nếu tiếp nhận và xây dựng xong các cơ sở mới được giúp thêm, ta có thể sửa chữa lớn được đại bộ phận các trang thiết bị kỹ thuật của Quân đội, trừ động cơ máy bay, động cơ xe tăng, xe xích cỡ trung và những động cơ tàu thủy có công suất cao; phát triển thêm một bước các cơ sở sản xuất quốc phòng (9 cơ sở) sản xuất được các loại vũ khí nhẹ từ cấp tiểu đoàn trở xuống; tăng cường thêm được một số vũ khí phòng không (khoảng 13 tiểu đoàn cao xạ từ 37mm đến 85mm, 15 tiểu đoàn 12,7mm); hoàn chỉnh được trang bị kỹ thuật cho hệ thống sân bay của Việt Nam, cộng cả thiết bị đã có, ta có thể đủ thiết bị cho các sân bay và có thể dành được một phần cho dự bị; về pháo mặt đất, tuy có loại không phù hợp với biên chế trang bị của ta nhưng có thể trang bị được khoảng 8 sư đoàn về súng cối, pháo chống tăng, lựu pháo…"[6].
Bước sang giai đoạn từ năm 1965 đến năm 1968, khi cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ leo thang và mở rộng ra cả nước, viện trợ quân sự của các nước XHCN anh em dành cho Việt Nam tiếp tục gia tăng cả về số lượng, chất lượng và giá trị so với giai đoạn trước đây. Tổng trọng lượng lên tới 548.557 tấn vật chất các loại, bao gồm vũ khí đạn dược, trang thiết bị đồng bộ, lương thực, thực phẩm, thuốc men, y cụ[7]. Tổng trị giá lên tới 1.373,40 triệu rúp và 1.023,75 triệu nhân dân tệ. Cụ thể gồm một số loại trang bị chính sau: súng bộ binh 1.383.474 khẩu, súng chống tăng B40 và B41: 16.205 khẩu, súng cối và ĐKZ 9.525 khẩu, pháo hoả tiễn 912 khẩu, pháo mặt đất 822 khẩu, súng máy cao xạ 5.817 khẩu, pháo cao xạ 3.114 khẩu, tên lửa phòng không 17 trung đoàn, máy bay chiến đấu các loại 348 chiếc, xe tăng các loại 165 chiếc, máy vô tuyến điện 14.984 chiếc, máy hữu tuyến điện 28.090 chiếc, dây điện thoại 60.788km, máy công trình 400 chiếc, cầu 15 bộ, ô tô bánh hơi 3.548 chiếc, xe bánh xích 739 chiếc.
Sự giúp đỡ kể trên đã giúp thực lực quốc phòng Việt Nam tăng lên mạnh mẽ, có điều kiện bổ sung kịp thời những vũ khí và trang bị hao hụt trong quá trình chiến đấu. Tính đến thời điểm tháng 6 năm 1969, lực lượng vũ trang miền Nam: từ chỗ chỉ có các loại vũ khí bộ binh chiến lợi phẩm, nay bộ đội tập trung của ta đã được trang bị đủ vũ khí bộ binh loại tốt như: súng trường bán tự động, súng tiểu liên, trung liên hệ K56 sử dụng cùng một loại đạn nên tiếp tế đạn dược đỡ phức tạp. Các đại đội bộ binh đều được trang bị cối 60mm, súng chống tăng B40, B41 (nhiều hơn miền Bắc). Ngoài ra, được tăng cường thêm nhiều súng bắn máy bay tầm thấp, cối, ĐKZ các loại cho các cấp từ tiểu đoàn trở lên; cấp quân khu được trang bị loại pháo hoả tiễn mang vác với loại đạn nhiều mảnh (3.600 mảnh) nên sức sát thương rất lớn. Từ cấp tiểu đoàn trở lên được trang bị máy vô tuyến điện. Đối với lực lượng dân quân du kích, được trang bị gần 150.000 khẩu súng bộ binh K44, K50, súng chống tăng, cối và súng bắn máy bay tầm thấp. Riêng ở Nam Bộ được trang bị súng bộ binh K56 và tỷ lệ hoả lực mang vác cũng nhiều hơn. Đạn chiến đấu bảo đảm được từ 1 đến 2 năm.
Đối với lực lượng vũ trang miền Bắc, vũ khí, trang bị kỹ thuật đã được tăng cường về số lượng và cải tiến về chất lượng một bước lớn, có thể trang bị đầy đủ cho 450.000 quân tập trung bằng loại súng K56, ngoài ra còn khoảng 65 đến 70 vạn khẩu súng K44 và K50 trang bị cho dân quân tự vệ. Lực lượng phòng không được trang bị tương đối mạnh, tổ chức thành một mạng phòng không có tầm thấp (ba thứ quân), tầm trung bình, tầm cao có pháo cao xạ được trang bị khí tài chiến đấu trong mọi thời tiết ngày đêm, chiếm 35% tổng số pháo; tên lửa phòng không và máy bay chiến đấu MiG 21 có tốc độ trên tốc độ âm thanh đang được cải tiến. Ra đa trinh sát và ra đa dẫn đường cho máy bay số lượng tăng nhiều và chất lượng cũng được cải tiến (P12, P35…) đủ bảo đảm mạng lưới trên không tương đối vững chắc. Pháo mặt đất cũng được tăng cường thêm các loại pháo có tầm bắn xa, uy lực mạnh, tiện cơ động, dùng thích hợp với địa hình của Việt Nam (122mm, Đ74mm, 130mm)[8].
So với năm 1964, năm 1969, vũ khí bộ binh của lực lượng vũ trang Việt Nam tăng 4 lần, súng máy cao xạ tăng 8 lần, pháo cao xạ (có xe kéo) tăng 4 lần, máy bay chiến đấu tăng 8 lần, pháo có xe kéo tăng 2 lần, sức kéo tăng 3 lần; tên lửa từ chưa có, nay có 74 tiểu đoàn, xe tăng tăng 2 lần, bom đạn tăng 9 lần, cầu phà tăng 4 lần, máy vô tuyến điện tăng 3 lần, dây điện thoại tăng 5 lần, dân quân tự vệ được trang bị 300.000 khẩu súng bộ binh kiểu K44 và K50[9].
Bên cạnh giúp Việt Nam các loại vũ khí, đạn dược và phương tiện chiến tranh, các nước XHCN còn giúp vốn, tài liệu khoa học, kỹ thuật, cử đội ngũ chuyên gia cùng với Việt Nam xây dựng các công trình công nghiệp quốc phòng, dân sinh, y tế, giáo dục... Riêng về công trình công nghiệp quốc phòng, tính đến cuối năm 1968, các nước XHCN đã giúp 22 công trình, với tổng lượng vốn lên tới hàng trăm triệu rúp. Với tinh thần tự học, tự nghiên cứu, sản xuất, các nhà máy, xí nghiệp, các công binh xưởng trên miền Bắc và chiến trường miền Nam đã khai thác, sử dụng khá hiệu quả nguồn chi viện của các nước XHCN. Nhiều loại vũ khí, đạn dược, trang bị được bổ sung kịp thời cho các lực lượng vũ trang miền Bắc và vận chuyển chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam, đáp ứng yêu cầu chiến đấu của các lực lượng vũ trang ta trên khắp các chiến trường; các công trình quốc phòng, dân sinh từng bước đi vào hoạt động, khai thác đưa lại những thành tựu lớn phục vụ đắc lực công cuộc xây dựng và chiến đấu bảo vệ Tổ quốc.
Các số liệu đã dẫn trên đây cho thấy, nguồn vũ khí trang bị của các lực lượng vũ trang Việt Nam phần lớn là do các nước XHCN anh em chi viện. Nguồn sản xuất, cung cấp trong nước, do nhiều điều kiện và nguyên nhân khác nhau, mặc dù chúng ta đã phát huy tối đa tinh thần tự lực cánh sinh nhưng kết quả rất hạn chế1.
Với sự giúp đỡ to lớn đó, lực lượng vũ trang miền Bắc tiếp tục được cơ cấu bố trí lại nhằm sẵn sàng đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ. Đến cuối năm 1965, khối bộ đội chủ lực miền Bắc đã tăng từ 195.000 người lên 400.000 người. Các quân, binh chủng tăng gấp ba lần so với năm 1964, riêng Quân chủng Phòng không - Không quân phát triển vượt bậc, không chỉ dừng ở các loại pháo phòng không mà còn phát triển thêm các binh chủng: tên lửa đất đối không, ra đa cảnh giới, không quân tiêm kích. Nếu như năm 1964, lực lượng phòng không miền Bắc mới chỉ có 15 trung đoàn và 14 tiểu đoàn pháo cao xạ, một trung đoàn không quân tiêm kích, hai trung đoàn ra đa, thì đến cuối năm 1967 đã phát triển lên tới 33 trung đoàn và 66 tiểu đoàn pháo cao xạ, 10 trung đoàn tên lửa đất đối không, 2 trung đoàn không quân tiêm kích, 4 trung đoàn và 1 tiểu đoàn ra đa. Toàn bộ lực lượng phòng không miền Bắc được bố trí thành thế trận liên hoàn chặt chẽ, có thể đánh địch ở những độ cao khác nhau, vừa bảo đảm tác chiến rộng khắp, vừa có thể tập trung lực lượng bảo vệ những trọng điểm giao thông huyết mạch, những khu yếu địa của quốc gia. Bên cạnh lực lượng Bộ đội Phòng không chủ lực, lực lượng phòng không của bộ đội các địa phương và dân quân tự vệ cũng phát triển nhanh chóng. Những năm 1966 - 1967, lực lượng phòng không bộ đội địa phương và dân quân tự vệ được tổ chức thành nhiều tiểu đoàn, đại đội pháo phòng không, được trang bị từ súng máy 12,7mm, 14,5mm đến pháo cao xạ 37mm, 100mm. Riêng dân quân tự vệ có 2.000 đơn vị trực chiến trên toàn miền Bắc, sẵn sàng phối hợp chiến đấu với bộ đội chủ lực. Dân quân tự vệ thực sự trở thành lực lượng nòng cốt để xây dựng và phát triển phong trào toàn dân bắn máy bay, tàu chiến Mỹ, làm công tác phòng không nhân dân và bảo đảm giao thông vận tải…
Bước sang giai đoạn 1969 - 1972, nguồn viện trợ quân sự tiếp tục trở thành mối quan tâm lớn đối với ta và được Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chính phủ, Quân ủy Trung ương chỉ đạo các cơ quan chức năng khẩn trương đề nghị các nước trong phe XHCN tăng cường giúp Việt Nam: "Nhằm tăng cường trang bị, tăng cường sức chiến đấu, bảo đảm giành thắng lợi quyết định ở miền Nam, và tăng cường sức chiến đấu ở miền Bắc; đánh bại chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ và đề phòng chiến lược "chiến tranh cục bộ" mở rộng ra cả nước.
Đối với miền Nam, tăng cường trang bị mạnh cho ba thứ quân; tăng cường trang bị cho dân quân du kích nhiều hơn sau ngày 31 tháng 2 năm 1968; tăng cường hoả lực pháo binh, chủ yếu là pháo binh mang vác đi cùng bộ binh, và pháo binh cơ giới cho chiến trường gần; tăng cường lực lượng phòng không để hạn chế sự hoạt động của máy bay bay thấp của địch (trang bị phổ biến 12,7mm, 14,5mm cho cả ba thứ quân và pháo cao xạ có xe kéo cho chiến trường gần, trang bị tên lửa mang vác); tăng cường thiết bị bảo đảm kỹ thuật, bảo đảm chỉ huy, bảo đảm lương thực, thực phẩm, thuốc men, quân trang.
Đối với miền Bắc, tăng cường lực lượng phòng không, nâng cao chất lượng tên lửa, tăng thêm máy bay chiến đấu phòng không; tăng cường lực lượng vận tải và xe kéo pháo. Đảng chủ trương yêu cầu tất cả các nước XHCN trừ Anbani, Mông Cổ và Cuba viện trợ vũ khí, trang bị trị giá 600 triệu rúp và 450 triệu nhân dân tệ"[10].
 Đáp ứng yêu cầu chính đáng đó, các nước XHCN tiếp tục tăng cường viện trợ quân sự cho Việt Nam đánh Mỹ. Tổng giá trị và trọng lượng các loại vật chất các nước chi viện cho ta giai đoạn này cao nhất so với các giai đoạn trước và sau đó, lên tới 1.000.796 tấn vũ khí đạn dược và vật tư hậu cần. Theo Báo cáo ngày 12 tháng 6 năm 1973 của Bộ Quốc phòng về Tình hình vũ khí, đạn dược, khí tài và phương tiện, khả năng bảo đảm cho nhiệm vụ sắp tới thì: "Nhu cầu vật chất cho cuộc kháng chiến chống Mỹ rất lớn nhưng do đường lối đúng đắn của Đảng ta đã tranh thủ được sự viện trợ rất lớn của phía các nước XHCN anh em và với sự cố gắng rất lớn trong nước, chúng ta đã tạo được một số khối lượng vũ khí, đạn dược và phương tiện chiến đấu to lớn, có nhiều loại chất lượng tốt, phù hợp với điều kiện chiến đấu của ta, đã phát huy thắng lợi trên chiến trường Đông Dương". Từ năm 1964 tới năm 1972, về số lượng "tăng trung bình từ 5 đến 10 lần; có loại từ 12 đến 22 lần như súng máy cao xạ, máy bay, cầu phà công binh; có loại trước đây không có, đến nay có nhiều như tên lửa phòng không, tên lửa chống tăng, tàu chiến mang tên lửa". Trình độ trang bị của lực lượng vũ trang phát triển mạnh. "Súng bộ binh bắn tự động ngày càng nhiều, pháo nòng dài có tầm bắn xa và chính xác như 130mm, Đ74; xe tăng có tốc độ tấn công cao, vỏ thép dày như T54B, T59; pháo cao xạ có sơ tốc nhanh như 23mm, có khả năng chiến đấu trong mọi điều kiện thời tiết như cao xạ 57mm; tên lửa phòng không có A-72, S125, SA75M (3 cabin); tàu mang tên lửa của hải quân; máy bay MiG 21/96. Vũ khí, khí tài dùng bằng điện, điện tử ngày càng nhiều (vô tuyến điện, ra đa); khí tài chỉ huy của pháo cao xạ và tên lửa được cải tiến hơn; phương tiện vận tải, làm đường, vượt sông ngày càng cơ giới hoá… Tuy nhiên, những trang bị của Quân đội Việt Nam có nhiều chủng loại do nhiều nước sản xuất nên rất khó cho công tác bảo đảm kỹ thuật như: tên lửa có 3 loại, trên 15 loại máy bay, 120 loại ô tô, 241 loại nguồn điện, 20 loại ra đa, 186 loại vô tuyến điện… có loại phụ tùng thay thế rất ít hoặc không có như: tăng T34, T59, xe ô tô, xe xích, MiG17F, cao xạ loại 85 và 100mm"[11].
Tính năng, tác dụng của các loại vũ khí, trang bị, đạn dược các nước giúp Việt Nam, về cơ bản: "Các trang bị khí tài các nước XHCN viện trợ, nhìn chung có chất lượng tốt đã phát huy được tác dụng trên chiến trường, đã tăng cường sức chiến đấu cho Quân đội; góp phần đánh thắng chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc, đánh thắng chiến lược "chiến tranh cục bộ" ở miền Nam; góp phần đẩy mạnh tác chiến hiệp đồng binh chủng… các trang bị viện trợ có đủ để bổ sung tiêu hao hằng năm và tăng dần lượng dự trữ khoảng từ 2 đến 3 năm (trừ ô tô, một số loại đạn, một số khí tài trước mắt). Đi đôi với việc tăng cường về số lượng, chất lượng trang bị khí tài chiến đấu, bước đầu Việt Nam đã xây dựng được các cơ sở sản xuất quốc phòng; có các thiết bị, trạm sửa chữa để sửa chữa hầu hết các trang bị khí tài của ta hiện có; tăng cường thêm các thiết bị để giảng dạy trong các trường quân sự và các thiết bị nghiên cứu phục vụ cho việc sử dụng các trang bị, khí tài và một phần cho các công tác bảo quản, sản xuất, cải tiến"[12].
Được các nước XHCN anh em giúp đỡ, đặc biệt là vũ khí trang bị, bên cạnh bổ sung ngay cho các lực lượng vũ trang miền Bắc, chúng ta kịp thời vận chuyển chi viện các chiến trường. Theo thống kê của các cơ quan chức năng, từ năm 1965 đến năm 1972, miền Bắc đã chi viện miền Nam: 614.051 khẩu súng bộ binh, 35.599 khẩu súng B40 và B41, 1.785 khẩu súng ĐKZ, 8.494 khẩu cối các loại, 559 khẩu pháo hỏa tiễn, 40 khẩu pháo 130mm, 35 khẩu pháo 122mm và Đ74, 40 khẩu pháo chống tăng 85mm, 52 khẩu pháo lựu 122mm, 2.086 khẩu súng máy cao xạ, 24 khẩu pháo cao xạ 23mm, 195 khẩu pháo cao xạ 37mm, 113 xe tăng các loại, 50 xe bọc thép, 11 khẩu pháo cao xạ tự hành, 6.600 máy vô tuyến điện, 12.565 máy hữu tuyến điện, 25.177km dây điện thoại, 1.002 ô tô vận tải kéo pháo, 93 xe xích kéo pháo[13]
Tuy nhiên, những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1973 - 1975), viện trợ quân sự của các nước XHCN cho Việt Nam giảm rất lớn, đặc biệt là Liên Xô và Trung Quốc. Tổng trọng lượng chỉ còn 125.513 tấn. Theo Đại tướng Võ Nguyên Giáp, từ năm 1969 trở đi, Liên Xô đã từng bước thực hiện cắt giảm viện trợ cho Việt Nam, đặc biệt là về viện trợ quân sự; Việt Nam đã không nhận thêm được quả đạn tên lửa nào…[14]. Những năm 1974, 1975 thì nguồn viện trợ quân sự của hai nước Liên Xô, Trung Quốc dành cho Việt Nam gần như không đáng kể. Nếu như năm 1973, viện trợ quân sự của Liên Xô dành cho Việt Nam trị giá 248 triệu rúp thì sang năm 1974 đã tụt giảm xuống chỉ còn 98 triệu rúp và năm 1975 tiếp tục tụt giảm chỉ còn 76 triệu rúp. Tương tự, viện trợ quân sự của Trung Quốc dành cho cuộc chiến đấu của nhân dân Việt Nam cũng không ngừng giảm. Năm 1973, tổng trị giá là 1.415 triệu tệ nhưng năm 1974 giảm xuống chỉ còn 452 triệu tệ và năm 1975 là 196 triệu tệ. Chỉ tính riêng về vũ khí, trang bị năm 1973, viện trợ hai nước đã giảm 60% so với năm 1972, năm 1974 giảm còn 34% và năm 1975 lại tiếp tục giảm xuống chỉ bằng 11% so với năm 1972[15].
Tình hình phát triển lớn về tổ chức của Quân đội và yêu cầu nhiệm vụ tác chiến trên các chiến trường, đòi hỏi chúng ta phải phát huy cao độ tinh thần tự lực, tự cường, vượt qua mọi khó khăn gian khổ, triệt để tận dụng và khai thác có hiệu quả các nguồn lực, đáp ứng mọi nhu cầu bức thiết cho các lực lượng vũ trang xây dựng và chiến đấu[16]. Bên cạnh đó, trong những năm 1973 - 1975, Đảng ta tiếp tục chủ trương yêu cầu các cơ quan chức năng trong đặt viện trợ quân sự với các nước XHCN phải đạt được:
Bảo đảm các nhu cầu chiến đấu, công tác và xây dựng trước mắt của các lực lượng vũ trang ta ở miền Nam, miền Bắc, Campuchia, Lào và trên tuyến hậu cần chiến lược, đồng thời bảo đảm có một lượng dự trữ cần thiết.
Giải quyết một bước tình trạng không cân đối về trang bị giữa các quân chủng, binh chủng, không cân đối giữa tổ chức biên chế với trang bị, giữa các loại trang bị và giữa trình độ trang bị với khả năng bảo đảm kỹ thuật, đồng thời cố gắng hiện đại hóa thêm một bước các quân chủng, binh chủng kỹ thuật.
Tăng cường cơ sở vật tư kỹ thuật cho việc xây dựng về lâu dài, nâng cao khả năng tự cung cấp nhu cầu vật tư kỹ thuật của Quân đội ta.
Viện trợ quân sự phải bảo đảm bổ sung được tiêu hao từ
1 đến 2 năm chiến tranh; tăng cường sức đột kích bằng hỏa lực và bằng cơ giới cho các lực lượng bộ binh; tăng thêm số lượng, chất lượng trang bị, khí tài cho các quân chủng, binh chủng kỹ thuật và thay thế dần các trang bị, khí tài đã giảm chất lượng hoặc không nguồn bổ sung, hoặc lạc hậu; tăng thêm phương tiện kỹ thuật cho các tuyến vận tải; tăng cường mạng đường ống dẫn dầu và phương tiện cung cấp xăng dầu[17]
Theo phương hướng đó và trước yêu cầu của Việt Nam, các nước tiếp tục giúp Việt Nam nhiều loại vũ khí trang bị, vật tư hậu cần - kỹ thuật, tuy nhiên đã giảm nhiều về số lượng và chất lượng. Cụ thể, từ năm 1969 đến năm 1975, các nước trong phe XHCN đã viện trợ quân sự cho Việt Nam một số vũ khí, trang bị chính: súng bộ binh 3.194.279 khẩu, súng chống tăng 60.005 khẩu, súng cối 25.427 khẩu, pháo hoả tiễn 2.143 khẩu, pháo mặt đất 1.385 khẩu, súng máy cao xạ 15.794 khẩu, pháo cao xạ 6.150 khẩu, 10.169 quả đạn tên lửa chống tăng, 3.075 quả đạn tên lửa phòng không vác vai, 8.666 quả đạn tên lửa V.750V, 180 quả đạn tên lửa Hồng Kỳ, 480 quả đạn tên lửa V.601P, máy bay chiến đấu 486 chiếc, tàu hải quân chiến đấu 36 chiếc, tàu chuyên dùng và vận tải 148 chiếc, xe tăng các loại 1.084 chiếc, xe bọc thép 795 chiếc, xe xích kéo pháo 1.870 chiếc, xe vận tải và kéo pháo 26.493 chiếc, xe chuyên dùng khác 8.925 chiếc, 40 bộ cầu phao, 3.979 xe máy công trình, 47.239 chiếc xe và máy vô tuyến điện, 70.085 máy tổng đài và tải ba điện thoại, 217.884km dây điện thoại dã chiến, 56 bộ đường ống dẫn dầu, 12.020.000 bộ quân trang, 139.119 tấn lương thực và thực phẩm, 68 bộ thiết bị toàn bộ…[18].
Nguồn vũ khí trang bị lớn đó đã được phía Việt Nam
sử dụng rất hiệu quả. Phần lớn trong số đó khẩn trương được chuyển qua đường Trường Sơn chi viện cho các chiến trường (năm 1968 là 27.600 tấn đạn, năm 1972: 58.600 tấn, năm 1973
-1974 và đầu năm 1975: 413.450 tấn vũ khí, đạn dược, trang bị[19]), một phần sử dụng vào dự trữ chiến lược. Những thắng lợi quân sự bước ngoặt của quân và dân ta như cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, cuộc Tiến công chiến lược năm 1972, Điện Biên Phủ trên không cuối năm 1972 và đặc biệt là cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 kết thúc vẻ vang sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ xâm lược, là những sự kiện ghi nhận vai trò và tác dụng to lớn, sự giúp đỡ có
hiệu quả từ phía các nước XHCN anh em dành cho nhân dân Việt Nam.
Qua những số liệu trên đây chúng ta thấy rằng, cùng với sự ủng hộ về mặt chính trị tinh thần, việc cử đội ngũ chuyên gia kỹ thuật, việc giúp đào tạo cán bộ thì viện trợ quân sự của bạn bè quốc tế, đặc biệt là của các nước trong phe XHCN cho Việt Nam suốt 21 năm Việt Nam chống Mỹ, cứu nước là hết sức to lớn và quý báu. Các nước XHCN đã viện trợ tổng cộng 2.362.682 tấn vật chất, trị giá lên tới 7 tỷ rúp. Sự giúp đỡ thiết thực này là nguồn cổ vũ động viên to lớn đối với nhân dân Việt Nam và đã được Việt Nam sử dụng rất hiệu quả, chuyển hoá thành sức mạnh dân tộc, góp phần tạo nên sức mạnh tổng hợp để đánh thắng đế quốc Mỹ. Với truyền thống và đạo lý "uống nước nhớ nguồn", chúng ta đời đời ghi nhận và biết ơn sự ủng hộ, giúp đỡ nhiệt tình của bầu bạn quốc tế dành cho nhân dân Việt Nam suốt những năm gian lao kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược.

Nguồn: Sách "Đại thắng mùa Xuân 1975 - Sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc thời đại Hồ Chí Minh", Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2010, tr.796-812 (sách cấp phát).
 

* Viện Lịch sử quân sự Việt Nam - Bộ Quốc phòng.
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 26, Sđd, tr. 460.
[2] Trường Chinh, Tăng cường đoàn kết để xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, Nxb ST, H, 1958, tr. 35.
[3] Bộ Tổng Tham mưu, Báo cáo tình hình viện trợ quân sự không hoàn lại từ năm 1950 đến năm 1975 của Liên Xô, Trung Quốc, 6 nước XHCN Đông Âu, Cu Ba, tờ 1-3, Tài liệu lưu tại Thư viện Lịch sử quân sự Việt Nam.
1. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 22, Nxb CTQG, H, 2002, tr. 163.
[4] Bộ Tổng Tham mưu, Báo cáo tình hình trang bị của Quân đội ta và đề nghị xin viện trợ quân sự năm 1966, Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng, phông BTTM, Hồ sơ 906, tờ số 1-14.
[5] Bộ Quốc phòng, Báo cáo kiểm điểm 4 năm xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng (1954 - 1958), tờ 44, Tài liệu lưu tại Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng.
[6] Bộ Quốc phòng, Báo cáo về kết quả viện trợ quân sự của các nước XHCN
sau Hiệp nghị 17 tháng 4 năm 1965
, tờ 1-6, Tài liệu lưu tại Trung tâm lưu trữ Bộ
Quốc phòng.
[7] Quân ủy Trung ương, Tổng hợp số liệu  (1969), tờ 119-189, Tài liệu lưu tại Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng.
[8]Bộ Tổng Tham mưu, Tình hình các nước XHCN anh em viện trợ quân sự trong
5 năm qua (1965 - 1969),
tờ số 6, Tài liệu lưu tại Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng.
[9] Quân ủy Trung ương, Số liệu tình hình về ta, tờ 1, Tài liệu lưu tại Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng.
1. Tính từ năm 1957 đến năm 1968, bộ đội ở miền Bắc sản xuất được 15.411 tấn vũ khí đạn dược, các chiến trường 6.519 tấn, 1.979 tấn phụ tùng xe máy; trong khi đó, tổng nguồn vật chất các loại (chủ yếu là vũ khí phương tiện chiến tranh) các nước trong phe XHCN chi viện cho Việt Nam (không kể phần viện trợ kinh tế) từ năm 1954 đến năm 1968 là 668.347 tấn các loại, gấp trên dưới 30 lần.
[10] Bộ Quốc phòng, Yêu cầu các nước XHCN viện trợ quân sự năm 1969, tờ 3-5, Tài liệu lưu tại Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng.
[11] Bộ Quốc phòng, Tình hình vũ khí, đạn dược, khí tài và phương tiện, tờ 111-119, Tài liệu lưu tại Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng.

[12]Bộ Tổng Tham mưu, Báo cáo tình hình viện trợ quân sự của các nước XHCN
anh em từ năm 1965 đến năm 1975,
tờ 10-20, Tài liệu lưu tại Trung tâm lưu trữ Bộ
Quốc phòng.
[13] Quân ủy Trung ương, Tình hình trang bị khí tài, đạn 1973, tờ 1-20, Tài liệu lưu tại Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng.
[14] Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng hành dinh trong mùa Xuân toàn thắng, Sđd,
tr. 16.
[15] Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975), tập VIII, Sđd, tr. 22.
[16] Từ năm 1965 đến năm 1973, nguồn vũ khí trang bị của quân đội do Nhà nước cung cấp và sản xuất được gồm một số loại chính: 18.427 khẩu súng bộ binh, 43.132 súng B40 và B41, 3.173 khẩu cối các loại, 4.973 tấn đạn dược, 19 bộ cầu phao.
[17] Nghị quyết của Hội nghị Thường vụ Quân ủy Trung ương về yêu cầu các nước XHCN viện trợ quân sự và đề nghị Nhà nước đặt hàng cho quốc phòng năm 1973, Tài liệu lưu tại Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng.
[18] Bộ Tổng Tham mưu, Báo cáo tình hình viện trợ quân sự không hoàn lại từ năm 1950 đến năm 1975 của Liên Xô - Trung Quốc - 6 nước XHCN Đông Âu - Cuba, tờ 6-7, Tài liệu lưu tại Thư viện Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.
[19] Ban Chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị, Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước - Thắng lợi và bài học, Sđd, tr. 318.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

CHÀO BẠN! NẾU CÓ THẮC MẮC HOẶC ĐÓNG GÓP, XIN ĐỂ LẠI Ý KIẾN BẰNG TIẾNG VIỆT CÓ DẤU. CHÚNG TÔI RẤT VUI VÌ BẠN ĐÃ GHÉ THĂM!