Thứ Tư, 20 tháng 11, 2013

TIẾP NHẬN VÀ SỬ DỤNG NGUỒN CHI VIỆN CỦA LIÊN XÔ, TRUNG QUỐC VÀ CÁC NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG SỰ NGHIỆP CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC


Đại tá, Ths Trần Tiến Hoạt*
Thượng úy Lê Quang Lạng**
Vừa bước ra khỏi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1954), nhân dân ta lại phải đương đầu ngay với cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới của đế quốc Mỹ, mà theo Đảng ta nhận định sẽ còn phức tạp, ác liệt gấp nhiều lần cuộc kháng chiến trước đây. Để tiếp tục lãnh đạo toàn quân, toàn dân ta tiến hành cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ - cường quốc hàng đầu trong phe Tư bản chủ nghĩa, có sức mạnh quân sự, kinh tế hơn ta gấp nhiều lần, Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh với đường lối và phương pháp cách mạng đúng đắn, sáng tạo, đã chủ trương tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng: cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam nhằm mục tiêu chung là đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào, giải phóng hòan toàn miền Nam, thực hiện thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Đảng ta đề ra và chỉ đạo thực hiện chiến lược và sách lược nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu thống nhất đất nước, trong đó, việc kết hợp hài Hòa lợi ích quốc gia với lợi ích quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại là một trong những nội dung lớn. Chúng ta đều biết, vào đầu những năm năm mươi của thế kỷ XX, sau khi cách mạng Trung Quốc thành công, nước Cộng Hòa nhân dân Trung Hoa ra đời đã làm cho hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa do Liên Xô đứng đầu được mở rộng và phát triển hùng hậu. Trên thực tế, hệ thống xã hội chủ nghĩa đã trở thành đối trọng của hệ thống các nước tư bản chủ nghĩa do Mỹ đứng đầu. Liên Xô chủ trương tạo dựng một thế giới Hòa bình (thi đua Hòa bình) trong bối cảnh cuộc chiến tranh lạnh diễn ra ngày càng gay gắt, mà tâm điểm là cuộc chạy đua vũ trang giữa hai cường quốc đứng đầu đại diện cho hai hệ thống chính trị là Liên Xô và Mỹ. Tuy nhiên, mỗi quốc gia đều có lợi ích riêng gắn chặt với lợi ích chung của cả hệ thống chính trị. Vì vậy, vấn đề đặt ra đối với Việt Nam là làm thế nào để các nước trong phe xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là Liên Xô, Trung Quốc ủng hộ và giúp đỡ sự nghiệp kháng chiến của ta.
Trong những điều kiện đó, với đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ nhưng mềm dẻo, khôn khéo, bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương tiếp tục giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam là một cuộc chiến đấu vĩ đại vì độc lập, tự do chống lại ách thống trị của thế lực xâm lược Mỹ, là đại biểu cho phong trào đấu tranh của các dân tộc chống lại chủ nghĩa thực dân kiểu mới của Mỹ, vì một nền Hòa bình trên thế giới. Vì thế, sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đã được các nước xã hội chủ nghĩa đứng đầu là Liên Xô và Trung Quốc đồng tình ủng hộ. Sự ủng hộ đó đã được cụ thể hóa bằng sự giúp đỡ to lớn và có ý nghĩa quan trọng về vật chất. Sự kiện Đoàn đại biểu Chính phủ ta do Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn đầu, thăm ba nước Liên Xô, Trung Quốc và Mông Cổ trong vòng một tháng (22.6 đến 22.7.1955), đã mở đầu thời kỳ các nước xã hội chủ nghĩa và nhân dân yêu chuộng Hòa bình và công lý trên thế giới ủng hộ và giúp đỡ sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta. Đánh giá về ý nghĩa quan trọng của sự ủng hộ, giúp đỡ từ bên ngoài đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: "10 năm trước đây, chúng ta hầu như cô đơn, chỉ nhờ sức mạnh đoàn kết mà cách mạng thắng lợi. Ngày nay, nhân dân ta lại có đại gia đình gồm 900 triệu anh em từ á sang Âu và nhân dân yêu chuộng Hòa bình thế giới ủng hộ. Cho nên cuộc đấu tranh chính trị để thực hiện Hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ trong cả nước tuy nhiều khó khăn, nhưng chúng ta nhất định sẽ thắng lợi"1. Tuy nhiên, Người cũng nêu rõ: "Phương châm của ta hiện nay là: tự lực cánh sinh là chính, việc các nước bạn giúp ta là phụ. Các nước bạn giúp ta cũng như thêm vốn cho ta. Ta khéo dùng cái vốn ấy để bồi bổ lực lượng của ta, phát triển khả năng của ta. Song nhân dân và cán bộ ta tuyệt đối chớ vì bạn ta giúp nhiều mà đâm ra ỷ lại"2.
Ngay sau chuyến thăm, theo thỏa thuận giữa Chính phủ ta với Chính phủ Liên Xô, Trung Quốc và Mông Cổ, về kinh tế, trong 2 năm Liên Xô giúp ta các thiết bị máy móc, kỹ thuật trị giá 306 ngàn triệu đồng (ngân hàng Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa) để khôi phục và phát triển 25 xí nghiệp; Trung Quốc giúp ta khôi phục hệ thống đường sắt, bến tàu, tu sửa cầu đường, xây dựng nhà máy dệt, nhà máy thuộc da, nhà máy giấy... trị giá 1.224 ngàn triệu đồng trong 5 năm; Mông Cổ giúp ta 500 tấn thịt và một số bò và cừu để lập một nông trường chăn nuôi3. Đến cuối năm 1962, Liên Xô đã giúp ta 1.400 triệu rúp, xây dựng 34 nhà máy lớn, 19 nông trường và cải tạo 27 nông trường, một số trường đại học, một bệnh viện lớn... Trên các mặt hợp tác, giúp đỡ về văn hóa - giáo dục - y tế, Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa khác như Ba Lan, Tiệp Khắc, Bungari, Hunggari, Cộng Hòa Dân chủ Đức..., luôn tạo những điều kiện thuận lợi để mở rộng, phát triển các chương trình hợp tác về văn hóa, giúp đào tạo cán bộ chuyên môn và cử chuyên gia sang giúp ta. Các hiệp định mậu dịch cũng được kí kết, nhằm mở rộng buôn bán giữa nước ta với các nước xã hội chủ nghĩa.
Hoạt động hợp tác, giúp đỡ toàn diện của Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa gia tăng theo nhịp độ phát triển của công cuộc xây dựng kinh tế - xã hội, văn hóa - giáo dục trên hậu phương miền Bắc và mức độ gia tăng của cuộc kháng chiến chống Mỹ - ngụy của quân và dân ta ở chiến trường miền Nam và trên cả nước. Và hiển nhiên, trong lúc nhiệm vụ chiến lược của ta là tiến hành cuộc kháng chiến, thì viện trợ quân sự chiếm tỉ trọng lớn và là bộ phận quan trọng trong các chương trình hợp tác, giúp đỡ của Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa anh em, đồng thời việc tiếp nhận và sử dụng viện trợ quân sự trở thành công tác trọng yếu của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta.
Trong quá trình tiếp nhận hàng viện trợ nói chung, hàng viện trợ quân sự nói riêng, chúng ta đã tổ chức, xây dựng được một hệ thống tương đối Hòan chỉnh các bến bãi, kho tàng, hình thành các đơn vị vận tải của Nhà nước, nhân dân và đặc biệt là của Quân đội để tiếp nhận hàng hóa ở các cảng biển lớn như Hải Phòng, Hồng Gai (Quảng Ninh), biên giới Việt Nam - Trung Quốc, vận chuyển đến bảo quản, cất giữ ở các kho tàng trên khắp hậu phương miền Bắc, dọc tuyến vận tải chiến lược đường Trường Sơn và chuyên chở, cấp phát cho các chiến trường Trị - Thiên, Tây Nguyên - Khu 5, Nam Bộ, Lào và Cămpuchia. Khối lượng hàng quân sự Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ từ năm 1955
đến 1975, qua từng giai đoạn như sau:
- Giai đoạn 1955 - 1960: tổng số 49.585 tấn, gồm: 4.105 tấn hàng hậu cần, 45.480 tấn vũ khí, trang bị - kỹ thuật; trong đó, Liên Xô viện trợ 29.996 tấn, Trung Quốc viện trợ 19.589 tấn1.
- Giai đoạn 1961 - 1964: tổng số 70.295 tấn, gồm: 230 tấn hàng hậu cần, 70.065 tấn vũ khí, trang bị - kỹ thuật; trong đó, Liên Xô 47.223 tấn, Trung Quốc 22.982 tấn, các nước xã hội chủ nghĩa khác 442 tấn.
- Giai đoạn 1965 - 1968: tổng số 517.393 tấn, gồm: 105.614 tấn hàng hậu cần, 411.779 tấn vũ khí, trang bị - kỹ thuật; trong đó, Liên Xô 226.969 tấn, Trung Quốc 170.798 tấn, các nước xã hội chủ nghĩa khác 119.626 tấn.
- Giai đoạn 1969 - 1972: tổng số 1.000.796 tấn, gồm: 316.130 tấn  hàng hậu cần, 684.666 tấn vũ khí, trang bị - kỹ thuật; trong đó, Liên Xô 143.793 tấn, Trung Quốc 761.001 tấn, các nước xã hội chủ nghĩa khác 96.002 tấn.
- Giai đoạn 1973 - 1975: tổng số 724.512 tấn, gồm: 675.267 tấn  hàng hậu cần, 49. 246 tấn vũ khí, trang bị - kỹ thuật; trong đó, Liên Xô 65.601 tấn, Trung Quốc 620.354 tấn, các nước xã hội chủ nghĩa khác 38.557 tấn.
 Như vậy, qua 20 năm, Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa anh em đã viện trợ cho Việt Nam tổng khối lượng hàng hóa là 2.362.581 tấn; khối lượng hàng hóa quân sự trên quy đổi thành tiền, tương đương 7 tỉ rúp1.
Bên cạnh nguồn chi viện từ bên ngoài, bằng tinh thần tự học tập, tự nghiên cứu, sản xuất, các nhà máy, xí nghiệp, các công binh xưởng trên miền Bắc và ở chiến trường miền Nam, trong các năm từ 1957 đến 1975, sản xuất được 41.052 tấn vũ khí, đạn dược và phụ tùng xe máy các loại.
Cùng với quá trình tiếp nhận và bằng kinh nghiệm khai thác, sử dụng nguồn chi viện của Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Quân đội và nhân dân Việt Nam đã quán triệt sâu sắc chủ trương của Đảng trong sử dụng nguồn chi viện sao cho có hiệu quả cao nhất, để bồi bổ, phát triển lực lượng và khả năng của ta.
Trên tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội, văn hóa - giáo dục, y tế, quân sự..., bằng trí thông minh và óc sáng tạo, con người Việt Nam đã sử dụng một cách hiệu quả nguồn lực từ bên ngoài, kể cả những lĩnh vực mới, những công cụ máy móc, phương tiện hiện đại... Tại các công trình phục vụ kinh tế, dân sinh do Liên Xô, Trung Quốc giúp ta xây dựng như: nhà máy nhiệt điện Phả Lại, Uông Bí, thủy điện Thác Bà, nhà máy hóa chất Việt Trì, phân đạm Hà Bắc, luyện kim Thái Nguyên..., cán bộ và công nhân kỹ thuật Việt Nam sau một thời gian ngắn đã đủ sức vận hành những dây chuyền máy móc hiện đại, những công đoạn phức tạp...
Đối với hàng hóa phục vụ quân sự, từ năm 1955 đến 1975, Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa chi viện cho ta gồm nhiều chủng loại vũ khí, đạn dược và phương tiện chiến đấu, cụ thể theo bảng số liệu1 sau:

Phân loại
Đơn vị tính
Liên Xô
Trung Quốc
Các nước XHCN khác*
1
2
3
4
5
Súng bộ binh
khẩu
439.198
2.227.677
942.988
Súng chống tăng
khẩu
5.630
43.584
16.412
Súng cối các loại
khẩu
1.076
24.134
2.759
1
2
3
4
5
Pháo hỏa tiễn
khẩu
1.877
290

Pháo mặt đất
khẩu
789
1.376
263
Pháo cao xạ
khẩu

3.229
614
Bộ điều khiển
bộ
647


Bệ phóng tên lửa
chiếc
1.357


Đạn tên lửa
quả
10.169


Tên lửa SA 75M
quả
23


Đạn tên lửa VT 50v
quả
8.686


Tên lửa Hồng Kỳ
e

1 trung đoàn

Tên lửa S125
e
2 trung đoàn


Đạn tên lửa K681
quả
480
480

Máy bay chiến đấu
chiếc
316
142

Tàu chiến hải quân
chiếc
52
30

Tàu vận tải hải quân
chiếc
21
127

Xe tăng các loại
chiếc
687
552
10
Xe vỏ thép
chiếc
601
360

Xe xích kéo pháo
chiếc
1.332
322
758
Xe chuyên dùng
chiếc
498
6.524
2.502
Phao cầu
bộ
12
15
13
Xe máy công trình
chiếc
100
3.430
650
ống dẫn dầu
bộ
56
11
45
Thiết bị toàn bộ
bộ
37
36
3
    
Quá trình tiếp nhận, bảo quản, khai thác, sử dụng vũ khí, trang bị, khí tài kỹ thuật quân sự từ nguồn chi viện, chúng ta phải giải quyết một loạt vấn đề nhằm đáp ứng những yêu cầu rất gay gắt, những đòi hỏi rất cấp bách mà cuộc kháng chiến trên cả hai miền đặt ra và nhằm đối phó có hiệu quả với các vũ khí, trang bị, khí tài kỹ thuật rất hiện đại, các phương tiện máy móc tối tân của Mỹ. Chúng ta biết, tiến hành chiến tranh xâm lược, với mục tiêu đè bẹp cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân ta, đế quốc Mỹ đã áp dụng những thành tựu khoa học - kỹ thuật mới nhất vào chế tạo, cải tiến vũ khí, trang bị cho quân đội Mỹ trên chiến trường Việt Nam. Về bom mìn, Mỹ đưa vào sử dụng các loại bom bi, bom vướng nổ, bom chùm để nâng cao khả năng sát thương sinh lực đối phương, bom từ trường (hay thủy lôi từ trường) đánh phá máy móc, phương tiện trên bộ cũng như dưới nước, đặc biệt, trong cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ hai, không quân Mỹ được trang bị  loại bom điều khiển bằng laser, được gọi là bom tinh khôn (smart bomb) để đánh phá các mục tiêu với độ chính xác rất cao. Cùng với việc triển khai các khí tài trinh sát sử dụng kỹ thuật tự động hóa, kỹ thuật và công nghệ điện tử, vi điện tử để phát hiện và thông báo cho lực lượng không quân ném boăyngn chặn các hoạt động của ta trên tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn, trong cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc, Mỹ sử dụng các loại máy gây nhiễu trên máy bay (riêng máy bay B52 được trang bị từ 15 đến 19 máy gây nhiễu) và tên lửa Shrike tự dẫn theo cánh sóng bức xạ rađa để khống chế các lực lượng phòng không Việt Nam... Có thể nói, xét trên bình diện khoa học - kỹ thuật quân sự, thì cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam là một cuộc chiến tranh tổng lực.
Trước yêu cầu bảo đảm đánh thắng địch trong mọi tình huống, trong mọi Hòan cảnh, trí tuệ và sức sáng tạo của con người Việt Nam được phát huy cao độ, và trên thực tế, chúng ta đã đối phó hiệu quả, hạn chế tính năng kỹ thuật, đi đến vô hiệu hóa các loại vũ khí, trang - kỹ thuật cao của Mỹ. Một số thành tích trong chiến đấu, trong nghiên cứu cải tiến, chế tạo vũ khí, trang bị - kỹ thuật tiêu biểu dưới đây, minh chứng cho tinh thần làm chủ vũ khí, trang bị - kỹ thuật của quân và dân ta:
    - Trên mặt trận bảo vệ cầu Hàm Rồng (Thanh Hoá) - trọng điểm đánh phá của không quân Mỹ, ngày 3.4.1965, lần đầu tiên ta đưa lực lượng không quân vào chiến đấu, biên đội Mig17 do Biên đội trưởng Phạm Ngọc Lan chỉ huy đã bắn rơi 2 máy bay F8 của không quân Mỹ; ngày hôm sau, cũng trên bầu trời Hàm Rồng, biên đội Mig17 do Biên đội trưởng Trần Hanh chỉ huy, bắn rơi 2 chiếc F105 của không quân Mỹ. Nối tiếp chiến công của bộ đội không quân, ngày 24.7.1965, tại trận địa Suối Hai (huyện Bất Bạt, Hà Tây), bộ đội tên lửa thuộc 2 tiểu đoàn 63 và 64 tham gia trận đầu, đã hạ 1 máy bay F4C, bắt sống 1 giặc lái Mỹ. Trong cuộc chiến đấu đánh trả máy bay Mỹ, sự phối hợp chiến đấu chặt chẽ, có hiệu quả của lực lượng phòng không ba thứ quân trên miền Bắc, đã hình thành "lưới lửa" dày đặc, truy đuổi, tiêu diệt máy bay địch, đồng thời, tạo ra những chiến thắng rất độc đáo, đến cả súng trường của lực lượng dân quân, tự vệ cũng bắn rơi máy bay phản lực hiện đại Mỹ...
    - Chúng ta ghi nhận những thành quả xuất sắc trong quá trình nghiên cứu cải tiến, chế tạo vũ khí, trang bị - kỹ thuật của đội ngũ cán bộ nghiên cứu khoa học thuộc các cơ sở, các viện nghiên cứu, các trường đại học trong và ngoài quân đội. Bằng phương tiện, máy móc hiện có và từ nguồn chi viện, các cán bộ nghiên cứu khoa học kỹ thuật thuộc Viện kỹ thuật quân sự - Bộ Quốc phòng, đã chế tạo ra các loại phương tiện, máy móc rà phá nhiều kiểu bom từ trường mà Mỹ sử dụng để ngăn chặn ta trên đường Trường Sơn. Cán bộ kỹ thuật của ta cũng thiết kế thành công tàu phá thủy lôi, rất hiệu lực khi khai thông các luồng lạch, các cửa sông, biển. Chúng ta đã cải tiến giá treo bom của máy bay chiến đấu để ném bom thia lia trên mặt biển, đánh tàu khu trục của Mỹ ngoài khơi biển Nghệ An; cùng với cán bộ kỹ thuật pháo binh chia tách pháo phản lực 40 nòng thành loại pháo phản lực mang vác H12, gọn nhẹ trong cơ động, linh hoạt trong bố trí và hiệu lực trong chiến đấu... Cán bộ khoa học quân sự cũng đã nghiên cứu khắc phục thành công nhiễu, đặc biệt là nhiễu do máy bay B52 tạo ra, góp công cùng bộ đội phòng không - không quân, cùng các đơn vị pháo cao xạ, các đội súng máy, súng trường của lực lượng dân quân, tự vệ ở Hà Nội, Hải Phòng và các tỉnh lân cận, đánh trả quyết liệt máy bay Mỹ trong 12 ngày đêm cuối năm 1972, bắn rơi 34 máy bay B52, 5 máy bay F111 và hơn 40 máy bay khác của Mỹ.
    - Trên chiến trường miền Nam, quân và dân ta cũng với với ý chí ngoan cường và tinh thần quả cảm, mưu trí, sáng tạo, đã sử dụng rất hiệu quả vũ khí trang bị của các nước bạn, sáng tạo ra nhiều cách đánh táo bạo, rất hiệu lực. Chỉ nói riêng cách sử dụng súng tiểu liên AK 47 bắn điểm xạ phát một, hoặc hai phát một trong chiến đấu cũng đã nói rõ kỹ năng chiến đấu rất thuần thục của cán bộ, chiến sĩ quân đội ta. ở chiến trường Tây Nguyên, tháng 9.1973, Sư đoàn 320 đã khắc phục khó khăn về địa hình, địa vật, dùng xe cơ giới và sức người, đưa hai trận địa pháo 105 mm và 85 mm lên các điểm cao, bắn thẳng vào cứ điểm Chư Nghé, làm tê liệt toàn bộ hệ thống hỏa lực địch, tạo điều kiện thuận lợi cho bộ binh xung phong đánh chiếm căn cứ. Trong chiến dịch Phước Long cuối năm 1974 đầu năm 1975, bộ đội pháo binh ta đã đặt pháo mặt đất 130 mm (pháo có cỡ nòng lớn nhất bạn viện trợ cho ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ) trên núi Bà Rá, ngắm bắn trực tiếp vào cứ điểm địch trong thị xã Phước Long, đưa lại hiệu quả rất lớn...
    - Vào giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh và đặc biệt trong Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, cùng với việc thành lập 5 quân đoàn chủ lực (1, 2, 3, 4 và Đoàn 232 tương đương quân đoàn), ta đã đưa vào khai thác, sử dụng số vũ khí, trang bị - kỹ thuật từ nguồn viện trợ bao gồm: xe tăng T 54, T 34, PT 76, súng pháo các loại, tên lửa vác vai, tên lửa đất đối đất, đất đối không, máy bay vận tải, tàu chiến đấu, tàu vận tải..., bảo đảm cho các quân đoàn tiến hành phương thức tác chiến hiệp đồng binh chủng quy mô lớn, thực hiện nhiệm vụ chính trị và quân sự chiến lược của Đảng. Đoàn 559 cùng bộ đội vận tải ở các đơn vị khác, sử dụng hàng chục nghìn xe vận tải để chuyên chở vũ khí đạn dược, lương thực, thực phẩm vào chiến trường miền Nam, bảo đảm cho hơn 25 vạn quân cơ động chiến đấu; bộ đội thông tin sử dụng mạng thông tin tải ba, thông tin vô tuyến, thông tin hữu tuyến bảo đảm thông tin thông suốt, kịp thời, bí mật; bộ đội xăng dầu Hòan chỉnh hệ thống đường ống gần 2.000 km, nối từ hậu phương lớn miền Bắc đến chiến trường Đông Nam Bộ (Bù Gia Mập)... Lực lượng và phương tiện chiến đấu, phương tiện bảo đảm lớn được huy động vào thời điểm kết thúc chiến tranh là một nhân tố bảo đảm cho thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước ròng rã 21 năm trường của nhân dân Việt Nam.
    Do khuôn khổ của một bài tham luận, chúng tôi chưa có điều kiện đề cập một cách sâu sắc, toàn diện quá trình tiếp nhận và sử dụng nguồn chi viện của các nước xã hội chủ nghĩa. Chỉ có thể nói rằng, thành quả của cách mạng Việt Nam trong xây dựng đất nước, trong chiến tranh giải phóng Tổ quốc không tách rời sự ủng hộ, giúp đỡ trên tinh thần quốc tế vô sản của các nước xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là Liên Xô, Trung Quốc. Và, một điều chắc chắn rằng, sự ủng hộ, giúp đỡ có hiệu quả đó của các nước trong phe xã hội chủ nghĩa nói riêng, của bầu bạn khắp nơi trên thế giới nói chung bắt nguồn từ tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến, từ đường lối, chính sách ngoại giao, đường lối quốc tế đúng đắn, sáng tạo của Đảng ta, với ảnh hưởng và uy tín của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Thắng lợi của chính sách ngoại giao thời đại Hồ Chí Minh là thắng lợi của đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ; của chính sách ngoại giao trên tinh thần quốc tế vô sản trong sáng, mềm dẻo, có tình, có lý. Chính vì vậy, ở vào thời điểm hai nước Liên Xô và Trung Quốc xảy ra những bất đồng quan điểm, vào lúc cuộc chiến tranh ở Việt Nam được Mỹ đẩy lên tới mức cao nhất, thì sự ủng hộ, giúp đỡ của Liên Xô, Trung Quốc cho cách mạng nước ta vẫn được bảo đảm.
    Năm tháng sẽ qua đi, tình hình thế giới sẽ còn tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường. Song, với tình cảm bạn bè thủy chung trước sau như một, Đảng, Chính phủ và nhân dân ta luôn đánh giá cao sự ủng hộ, giúp đỡ về vật chất và tinh thần to lớn, vô tư, đầy hiệu quả của các nước xã hội chủ nghĩa anh em và bầu bạn khắp năm châu. Toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta mãi mãi "tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đối với Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa anh em khác, đã vì tình nghĩa quốc tế vô sản, dành cho nhân dân ta sự ủng hộ và giúp đỡ toàn diện, to lớn và quý báu"1.

Nguồn: Sách “Đại thắng Mùa Xuân 1975 bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam”, Nxb.Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2005, tr.308-319.

* Phó Chủ nhiệm Bộ môn Lịch sử kháng chiến chống Mỹ - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.
** Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.
1, 2, 3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Tập 8 (1955-1957), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr. 39, 30.
1. Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng: Thống kê số liệu viện trợ quốc tế; Hồ sơ 795, số 15.
2 Ban Chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị: Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945-1975: Thắng lợi và bài học, Nxb, CTQG, Hà Nội, 2000, tr. 601.
1. Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng: Thống kê số liệu viện trợ quốc tế; Tlđd, số 14.
* Các nước xã hội chủ nghĩa bao gồm: Tiệp Khắc, Ba Lan, Hunggari, Bungari, Rumani, Cộng hòa dân chủ Đức, Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên và Cu Ba.
1. Đảng cộng sản Việt Nam: Nghị quyết đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV, Nxb. Sự Thật, Hà Nội, 1977, tr. 11.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

CHÀO BẠN! NẾU CÓ THẮC MẮC HOẶC ĐÓNG GÓP, XIN ĐỂ LẠI Ý KIẾN BẰNG TIẾNG VIỆT CÓ DẤU. CHÚNG TÔI RẤT VUI VÌ BẠN ĐÃ GHÉ THĂM!