Thứ Bảy, 16 tháng 11, 2013

HOẠT ĐỘNG QUÂN SỰ TRONG CÁCH MẠNG THÁNG TÁM ĐÃ DIỄN RA NHƯ THẾ NÀO? TA CÓ THỔI PHỒNG HAY BÓP MÉO SỰ THẬT KHÔNG?



Văn Tạo
Tôi được Viện Lịch sử quân sự Việt Nam mời viết tập IX bộ Lịch sử quân sự Việt Nam, về thời kỳ "Vận động Cách mạng Tháng Tám". Mừng vì trong lòng đã ấp ủ từ lâu một mong muốn làm rõ vấn đề là: Vai trò của lực lượng quân sự trong Cách mạng Tháng Tám. Cũng bởi có người coi Cách mạng Tháng Tám đã diễn ra một cách "hoà bình", "ít đổ máu" nên vai trò của hoạt động vũ trang là không đáng kể.
Nhưng lúc đầu cũng e rằng "lực bất tòng tâm" vì tuổi đã già, lại không đi sưu tầm được thêm tài liệu. Chỉ nói tài liệu ở trong nước chứ chưa nói tới khối lượng tài liệu đồ sộ ở nước ngoài như ở Nhật, Pháp, Mỹ, Trung Quốc... mà tôi không có điều kiện tiếp cận được.

Nhưng cũng phần nào bớt được ngại ngần khi thấy các nhà sử học nước ngoài đã có nhiều công trình viết về thời kỳ này. Sâu sắc nhất là hai công trình xuất bản gần đây: một của Đavít Ma (David Marr) - Vietnam 1945 - The Quest for Power, Nxb Đại học California, Berkeley, 1995 (Việt Nam 1945 - Sự tìm kiếm quyền lực); và hai là của Stein Tứnnesson - The Vietnamese Revolution of 1945-Roosevelt, De Gaulle and Ho Chi Minh in a world at war, Nxb Sage - London - New Delhi, 1991 (Cách mạng Việt Nam năm 1945 - Ru-dơ-ven, Đờ Gôn và Hồ Chí Minh trong thế giới chiến tranh).
Các công trình lớn này đã phần nào giúp tôi có thêm tư liệu và có được những quan điểm mới trong việc nhìn nhận một số sự kiện lịch sử, nhất là nhìn từ góc độ quốc tế của các sự kiện đó.
Nhưng riêng về quân sự thì quan điểm giữa tôi và Xten Tôn-nét-xơn (S. Tứnnesson) lại có chỗ khác nhau.
Trong Lời giới thiệu của công trình kể trên, mục Giải thích Cách mạng Tháng Tám, Xten Tôn-nét-xơn viết: "Giống như nhiều truyền thuyết, câu chuyện về cuộc Cách mạng Tháng Tám chứa đựng khá nhiều sự thật và do đó có thể chấp nhận như một lý thuyết, nhưng nhiều sự việc đã bị bóp méo, cường điệu hoặc bỏ qua. Vai trò của Chính phủ toàn quốc tiền cách mạng (VT gạch dưới) do học giả được kính trọng Trần Trọng Kim đứng đầu, đã bị xuyên tạc... Khối lượng đấu tranh chống người Nhật đều đã được thổi phồng"1...
Về vấn đề Chính phủ Trần Trọng Kim có thể được coi là chính phủ "tiền cách mạng" hay không sẽ xin bàn ở chuyên đề khác. ở đây chỉ xin tập trung vào vấn đề: Hoạt động của các lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam trong thời kỳ Cách mạng Tháng Tám.
Công trình của Xten Tôn-nét-xơn, ngoài nhận xét kể trên còn có chỗ tác giả trích dẫn và phê bình một vài cuốn sử Việt Nam viết về thời kỳ Cách mạng Tháng Tám là đã miêu tả quá chủ quan và sơ sài các trận đánh Nhật, không nói rõ "quân số vũ khí của hai bên, địa danh, địa hình chiến trường, cuộc chiến đấu diễn ra cụ thể như thế nào... mà chỉ thấy nói một cách chung chung: tấn công... đánh đuổi... rồi chiến thắng...?".
Điều đó tôi thừa nhận là có thực. Ngay cả tháng 8 năm 1997 vừa qua, một bài tường thuật ngắn của một tác giả, in trên báo Hà Nội mới, vẫn còn viết là ở Hà Đông có một trận đánh Nhật thời kỳ đó, ta đã tiêu diệt "một trung đội Nhật"? Số lượng quân Nhật bị tiêu diệt này là không có thực trong lịch sử.
Chính vì vậy mà khoa học lịch sử yêu cầu chúng ta phải xác minh tư liệu và không được chọn dùng một cách tuỳ tiện, thậm chí dẫn sai tài liệu theo ý muốn chủ quan của mình. Nhưng chính Xten Tôn-nét-xơn trong khi góp ý kiến với chúng ta như trên, tác giả cũng lại thiếu thận trọng và thiếu chính xác khi nói về một số sự kiện lịch sử quân sự của ta. Không những tác giả không coi trọng những cuộc chiến đấu chống Nhật - Pháp và chống quân đội của chính quyền bù nhìn tay sai của chúng ở các địa phương, mà còn vô tình hay cố ý dẫn ra và nhận định sai lầm về một số cuộc chiến đấu mà diễn biến đã được tường thuật khá rõ ràng và chính xác. Cụ thể như hai chiến thắng đầu tiên của Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân là hạ hai đồn Phai Khắt và Nà Ngần.
Hai cuộc hạ đồn này đã đạt được thắng lợi cả về quân sự lẫn chính trị, đã được người chỉ huy là Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết lại một cách cẩn trọng và đầy đủ trong công trình Từ nhân dân mà ra như chúng ta đã biết. Nay lại được tác giả tường thuật hoàn toàn sai sự thực như sau:
"Ngày 22 tháng 12 năm 1944 được coi là ngày khai sinh chính thức của quân đội, sau này được gọi là Quân đội nhân dân Việt Nam.
Một vài cuộc tiến công táo bạo tiếp theo: Trong đêm giữa 25 và 26-12 (tức đêm tiến công đồn Phai Khắt-VT), một viên cai người Pháp bị dùng mưu bắt và 15 binh sĩ của anh ta bị cắt cổ. Ngày 4 tháng 1, một cuộc tấn công của 200 "phiến loạn" vào một đồn binh khác thất bại...1.
Loại trừ cách dùng khái niệm mà chúng ta không thể chấp nhận được khi gọi các đội quân cách mạng của chúng ta là "quân phiến loạn" vì theo quan niệm của tác giả, cứ ai chống lại chính quyền chính thống đương thời đều bị coi là "phiến loạn"- chỉ bàn về sự kiện lịch sử đã được tường thuật kể trên thì sai lầm ở chỗ nào:
Hai cuộc chiến đấu ở Phai Khắt, Nà Ngần sau khi thành lập Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, đối với lực lượng vũ trang ta lúc đó là rất có ý nghĩa, vì là nó mở đầu cho hoạt động của Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân vừa mới ra đời. Cuộc chiến đấu diễn ra trong tình hình quân số mới được tập hợp lại từ nhiều nguồn, vũ khí thì ít ỏi, thô sơ lại cần phải thực hiện quyết định của lãnh tụ Hồ Chí Minh khi khai sinh ra đoàn quân này là: "Trận đầu ra quân nhất định phải thắng".
Về vũ khí, như đồng chí Võ Nguyên Giáp đã thuật lại: "Lực lượng của ta trong thời kỳ trứng nước này còn rất mỏng manh. Vũ khí đã thiếu, đạn dược còn thiếu hơn. Mỗi khẩu súng trường trung bình chỉ có 20 viên đạn. Đánh một hai trận là sẽ bắn đến viên đạn cuối cùng"2...
Do đó, phương thức tác chiến phải là du kích chiến: phục kích, tập kích...
Địa bàn hoạt động thì luận chứng khả thi phải là:
- Nơi đồn giặc đóng có cơ sở quần chúng cách mạng hỗ trợ. Điều cần thiết là phải chuẩn bị kế hoạch cho nhân dân đối phó với sự khủng bố trả thù của địch.
- Phải trinh sát kỹ lưỡng, nắm chắc được địch tình, nếu có nội ứng càng tốt.
- Mục tiêu là diệt đồn, thu vũ khí, binh vận (chỉ tiêu diệt kẻ ngoan cố chống đối).
Một đội quân cách mạng, trước khi ra quân đã có chủ trương cẩn trọng và nhân đạo như vậy, sao lại có thể "cắt cổ 15 binh sĩ người Việt" được?
Còn diễn biến của trận tập kích thì:
Phía địch có 17 lính và 1 cai. Đồn trưởng là một tên Pháp đã đi ngựa lên châu, có khả năng quay trở lại lúc ta công đồn. Phía ta có khoảng 50 người chia làm 3 toán nhập đồn với giấy tờ giả trót lọt và cuộc chiến diễn ra nhanh chóng.
Các chiến sĩ ta đột nhập đồn nhanh với mưu lược như vậy khiến 17 lính và 1 cai bị bất ngờ không kịp kháng cự. Tất cả đã đầu hàng. Giữa lúc tổ canh gác trên đường Nguyên Bình - Phai Khắt, cách đồn khoảng 3 cây số, chạy về báo tin là tên đồn trưởng đang trên đường về. Du kích quân khống chế bọn đã bị bắt ở sau đồn, bố trí phục kích chờ địch. Lệnh là không được nổ súng khi thấy chưa cần thiết, nhưng khi tên đồn trưởng đủng đỉnh cưỡi con ngựa hồng tiến vào thì do lòng căm thù giặc, một chiến sĩ ta đã nổ súng kết liễu đời y. Sự việc đáng tiếc này diễn ra ngoài ý muốn của chỉ huy vì nếu bắt sống được để làm công tác địch vận thì tốt hơn.
Với số gần hai chục tù binh đó, một số ít được chọn để bổ sung vào đội quân giải phóng. Số còn lại bị giữ lại vài ngày để phong toả tin tức rồi phóng thích1.
Với sự tường thuật như trên của người trực tiếp chỉ huy trận đánh thì "sai số" có thể coi là tối thiểu. Sao lại có thể như tường thuật kể trên của Xten Tôn-nét-xơn được?
Đây là một sự kiện đã quá rõ ràng và có tư liệu trực tiếp là cuốn Từ nhân dân mà ra của Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã được tác giả dẫn nhiều lần, là một trong những nguồn xuất xứ tư liệu quan trọng. Phải chăng do tác giả vốn coi nhẹ đấu tranh vũ trang của cuộc cách mạng này nên đã bị sai sót như vậy?
Dẫn ra một vài tư liệu, sự kiện kể trên để tăng thêm sự hiểu biết lẫn nhau về những thuận lợi và khó khăn của chúng ta, chứ không phải từ đó mà chúng tôi đánh giá thấp sự cống hiến của tác giả đối với việc nghiên cứu lịch sử Việt Nam thời kỳ này.
Điều cần thiết dưới đây là tôi muốn trình bày vắn tắt nhận thức của tôi về hoạt động quân sự của chúng ta trong thời kỳ Cách mạng Tháng Tám.
Theo tài liệu tôi vừa nhận được do Giáo sư Phu-tu-ra
Mô-tô (Phutura Moto) cung cấp thì trong cả cuộc chiến ở Đông Dương phía Nhật Bản chỉ bị chết có khoảng 1.500 người. Lịch sử còn ghi lại những trận chiến đấu chống Nhật của ta, đáng kể như trận hạ đồn Tam Đảo mà dư luận phương Tây đánh giá khá cao, ta cũng chỉ diệt được có 7 quân nhân Nhật Bản và bắt 2. Các cuộc đánh Nhật ở các địa phương nhiều lắm cũng chỉ diệt 3 - 5 tên. Có địa phương lại quan tâm bắt sống Nhật, nếu có điều kiện, hơn là tiêu diệt họ, như trận du kích Lai Khê, Kim Thành, Hải Dương dùng mưu bắt được 4 lính Nhật trông coi cầu Lai Vu rồi giam giữ ở Hải Dương cho đến ngày Cách mạng Tháng Tám thành công đã trao lại cho phía Nhật.
Do chủ trương nhân đạo như vậy nên thời kỳ này đã có khoảng 450 quân Nhật chạy sang hàng ngũ Việt Minh. Một số đã có đóng góp nhất định vào cuộc chiến đấu chống Pháp sau này ở Việt Nam.
Nhưng, không thể chỉ căn cứ vào con số quân nhân Nhật Bản bị tiêu diệt trong hơn 5 năm (1940-1945) ít hay nhiều mà đánh giá thấp hoặc bỏ qua đi không kể đến những hoạt động quân sự của Quân đội nhân dân Việt Nam trong thời kỳ Cách mạng Tháng Tám.
Bởi vì trong quá trình vận động Cách mạng Tháng Tám (1930-1945), đối tượng đấu tranh quân sự của cách mạng Việt Nam không chỉ là Nhật mà là luôn thay đổi theo tình thế. Từ chỗ đối tượng đấu tranh là Pháp - Nhật (6-1940 - 2-1943), đến Nhật - Pháp (2-1943 - 9-3-1945), rồi từ ngày 9 tháng 3 năm 1945 mới chỉ còn phát xít Nhật và tay sai.
Khẩu hiệu đấu tranh của nhân dân Việt Nam cũng từ "đánh Pháp đuổi Nhật" đến "đánh đổ phát xít Nhật-Pháp" đến "đánh đổ phát xít Nhật và tay sai". Như vậy, hoạt động quân sự của quân và dân Việt Nam không thể chỉ bằng vào các cuộc chiến đấu chống Nhật mà phải là bằng vào cả quá trình đấu tranh chống lại ba kẻ thù Nhật, Pháp và tay sai của chúng để đánh giá. Hơn nữa, chủ trương chung của cách mạng là "hy sinh xương máu, chiến đấu để giành cho kỳ được độc lập, tự do" nhưng lại "tiết kiệm xương máu" trong những điều kiện có thể... Cho nên phải nhìn hoạt động quân sự đó một cách khách quan và toàn diện.
Hoạt động quân sự đó nhằm:
1. Tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch, khống chế, uy hiếp, lôi kéo, cải hoá địch ở địa phương (từ những lực lượng thấp nhất là tuần đinh, lính dõng, xã đoàn, tổng đoàn phản động) đi đến chiến đấu (như đột kích diệt đồn, phục kích địch đi tuần tiễu khủng bố, truy kích địch chạy trốn, đến tao ngộ chiến, trận địa chiến) đến khởi nghĩa từng phần và Tổng khởi nghĩa.
2. Xây dựng lực lượng quân đội từ nhỏ đến lớn, từ tự vệ địa phương, tự vệ thoát ly đến quân du kích, đến Cứu quốc quân, Giải phóng quân... Xây dựng và phát triển qua luyện tập và chiến đấu, chiến đấu từ nhỏ đến lớn để xây dựng các đơn vị từ nhỏ đến lớn, từ thấp đến cao.
3. Xây dựng địa bàn hoạt động quân sự từ thôn làng đến lập các căn cứ địa, khu du kích đến các chiến khu, khu giải phóng. Tác chiến với mọi hình thức có thể để thu chiến lợi phẩm trang bị cho quân đội, tăng thêm quân số và củng cố, mở rộng địa bàn hoạt động, mở rộng khu căn cứ, khu giải phóng...
4. Hỗ trợ cho phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng, tạo nên chỗ dựa vững chắc cho lực lượng vũ trang và tạo nên nguồn bổ sung dồi dào cho các lực lượng vũ trang từ Trung ương đến địa phương. Ngay hoạt động của lực lượng vũ trang cũng còn có lúc phải "chính trị trọng hơn quân sự" rồi mới tiến lên "chính trị và quân sự đi đôi"...
5. Vừa chiến đấu vừa phát triển lực lượng nhằm xây dựng nên Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh cho cả hiện tại và tương lai, như trong chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân mà Hồ Chí Minh đã đề ra.
Đó là các nội dung cơ bản của hoạt động quân sự thời kỳ này, trong đó đấu tranh quân sự, tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch (kể cả Nhật - Pháp và tay sai của chúng) là quan trọng. Nhưng đó cũng chỉ là một trong nhiều hoạt động quân sự khác của cách mạng.
Từ xây dựng lực lượng và xây dựng địa bàn hoạt động đến khởi nghĩa địa phương, khởi nghĩa từng phần và Tổng khởi nghĩa; từ làng xã đến tổng, huyện, tỉnh và Trung ương... không đâu không có hoạt động của lực lượng quân sự (bao gồm tự vệ địa phương, du kích bán thoát ly, du kích thoát ly đến Cứu quốc quân, Giải phóng quân)... mà lại có thể giành được thắng lợi, xây dựng được chính quyền.
Có nơi dù không phải nổ súng tiêu diệt một tên địch nào thì vai trò của lực lượng vũ trang cũng vẫn rất quan trọng. Không có nó không thể khống chế lực lượng phản động của địch ở địa phương, kiềm chế lực lượng vũ trang của chúng, để phong trào quần chúng tiến lên giành và giữ được chính quyền.
Với nội dung ý nghĩa đó, Cách mạng Tháng Tám vẫn là cuộc khởi nghĩa vũ trang nhưng do điều kiện chủ quan và khách quan đặc biệt mà ít phải đổ máu.
Nguồn: Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Sửa lại cho đúng - bàn thêm cho rõ, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2006, tr.174-182.


1. Xten Tôn-nét-xơn - The Vietnamese Revolution of 1945: Roosevelt, De Gaulle and Ho Chi Minh in a world at war, (Cách mạng Việt Nam năm 1945-Ru-dơ-ven, Đờ Gôn và Hồ Chí Minh trong thế giới chiến tranh), Nxb Sage-London-New Delhi, 1991, tr. 2.
1. Xten Tôn-nét-xơn: Sđd..., Chương IV: “Các kế hoạch xung đột”, mục “Kế hoạch khởi nghĩa”, tr. 179.
2. Võ Nguyên Giáp - Từ nhân dân mà ra, Nxb QĐND, Hà Nội, 1964, tr. 146.
1. Võ Nguyên Giáp - Từ nhân dân mà ra, Sđd, tr. 153.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

CHÀO BẠN! NẾU CÓ THẮC MẮC HOẶC ĐÓNG GÓP, XIN ĐỂ LẠI Ý KIẾN BẰNG TIẾNG VIỆT CÓ DẤU. CHÚNG TÔI RẤT VUI VÌ BẠN ĐÃ GHÉ THĂM!