Thứ Ba, 24 tháng 9, 2013

TÂY NGUYÊN - ĐÒN QUYẾT CHIẾN MỞ ĐẦU ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN 1975




PGS,TS. Hồ Khang
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam
          Sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc Việt Nam, cho đến năm 1974, đã trải qua chặng đường dài hai mươi năm với biết bao gian khổ hy sinh vì nền tự do, độc lập và vẹn toàn sông núi của Tổ quốc Việt Nam. Trong khoảng thời gian đó, vượt qua những thử thách sống còn, triệu người như một đã bền lòng chiến đấu, vững tin vào thắng lợi cuối cùng, đưa sự nghiệp đại nghĩa thống nhất non sông về một mối đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác mà Đồng khởi mùa Xuân 1960, Tết Mậu Thân 1968, cuộc tiến công chiến lược năm 1972 và “Điện Biên Phủ trên không” là những dấu mốc quan trọng. Những thắng lợi to lớn và toàn diện trên chiến trường của toàn quân và dân Việt Nam đã buộc đối phương phải ký kết Hiệp định Pari mà ý nghĩa cơ bản nhất của sự kiện quan trọng này là “Mỹ phải ra, quân ta thì ở lại”, mở ra giai doạn cuối cùng của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Thứ Hai, 23 tháng 9, 2013

CÁC KHUYNH HƯỚNG SỬ HỌC TRONG THẾ KỶ XIX VÀ XX


PGS.TS. Hoàng Hồng
ĐHKHXH&NV,ĐHQGHN
 Bài viết giới thiệu những luận điểm cơ bản về phương pháp luận sử học và triết học lịch sử của các khuynh hướng sử học chính đã xuất hiện và chi phối sử học thế giới trong thế kỷ XIX và XX.
1. Khuynh hướng Sử học khách quan
Nửa đầu thế kỉ XIX, những luận điểm của nhà sử học Đức Leopold von Ranke (1795-1886) về phương pháp luận sử học và triết học lịch sử đã có ảnh hưởng to lớn tới các nhà sử học ở châu Âu, đặc biệt là ở Đức và Pháp. Từ những luận điểm của ông, hình thành một khuynh hướng sử học tồn tại suốt nửa đầu thế kỷ XIX đó là khuynh hướng sử học khách quan.
Trong cuộc đời viết sử của mình, Ranke luôn nhấn mạnh đến sự “khách quan”. Nhà sử học - theo ông - không phải phán xét lịch sử mà nhiệm vụ của họ là tái tạo được các sự kiện lịch sử “như là nó đã xảy ra trong thực tế”.

Thứ Bảy, 21 tháng 9, 2013

Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ: THỬ TÌM “GIỜ G” CỦA TẾT MẬU THÂN

                                             LÊ THÀNH LÂN
     
I-Nhập đề
“Tìm giờ G của Tết Mậu Thân” là bài toán khó. Lời giải của nó thật sự cần thiết cho những nhà nghiên cứu lịch sử, nhất là lịch sử quân sự, những người đang nghiên cứu, bàn luận về sự kiện trọng đại này. Bốn mươi năm qua, dường như chưa có ai thử tìm một lời giải thỏa đáng, nhiều người không hề băn khoăn và vẫn tin rằng đó là “Đêm giao thừa” và không nhớ rõ là giao thừa nào. Nhiều người viết theo một lịch, nhưng khi ghi chú thêm bằng một lịch khác, thường lúng túng và hay viết sai. Chúng tôi căn cứ trên những tư liệu không mới, chỉ cố gắng phân tích theo lịch pháp và những suy luận với hy vọng tìm ra một lời giải khả dĩ. Đáp số thu được và trình bày ở đây có thể là khá bất ngờ, có thể đúng, có thể chưa hoàn toàn đúng, song hy vọng qua trao đổi chúng ta sẽ tiến dần đến một lời giải chính xác.    
Qua nghiên cứu và trao đổi, chúng tôi nhận thấy có một vài thông tin về Tết Mậu Thân tưởng như chắc chắn lại hoá ra không có căn cứ vì chúng đã đến với ta theo con đường “văn học-báo chí”, chúng được tô vẽ cho đẹp để đi vào lòng người, rồi từ cây bút này lan sang cây bút khác, khiến ta tưởng thật và tin vào điều đó. ở đây có hai việc: Một là, lấy thời điểm Bác Hồ đọc thơ chúc Tết làm hiệu lệnh chiến đấu. Câu chuyện rất “nên thơ”. Nhưng, ai cũng biết là đến Giao thừa, Bác Hồ sẽ đọc thơ chúc Tết.

CHIẾN THẮNG ĐƯỜNG 9 - KHE SANH XUÂN HÈ 1968


  PGS, TS. HỒ KHANG
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam
Cách đây hơn 40 năm, đã diễn ra trận chiến quyết liệt ở khu vực đường số 9 - Khe Sanh tại miền tây Quảng Trị giữa quân đội Mỹ và lực lượng vũ trang Quân giải phóng miền Nam. Mở màn trước đòn tiến công Tết Mậu thân 1968 đúng 10 ngày và kết thúc thắng lợi sau hơn 170 ngày đêm tấn công, vây hãm, giam chân một lực lượng lớn quân đội Mỹ, buộc quân Mỹ phải rút bỏ khỏi căn cứ lớn quan trọng sau những hao tổn nặng nề về sinh lực và phương tiện chiến tranh, chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh xuân hè 1968 của quân và dân miền Nam thuở ấy tạc vào lịch sử hiện đại Việt Nam như biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam thời đánh Mỹ. Khe Sanh, một vị trí có tầm quan trọng chiến lược ở miền núi phía tây tỉnh Quảng Trị, nằm trên cao nguyên mỗi chiều gần 10km.

Thứ Ba, 17 tháng 9, 2013

CHIẾN DỊCH BIÊN GIỚI 1950 - BƯỚC TIẾN MỚI CỦA LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN VIỆT NAM


PGS.TS. Hồ Khang
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam
Chiến thắng Biên giới Thu Đông 1950 là một trong những sự kiện lịch sử quan trọng của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) của nhân dân Việt Nam. Bằng chiến thắng đó, Việt Nam đã phá vỡ thế bị bao vây bốn mặt, đưa cuộc chiến đấu bước sang một giai đoạn phát triển mới. Gắn với chiến công này là sự phát triển của lực lượng vũ trang nhân dân ba thứ quân do Đảng CSVN[1], đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, rèn luyện, lãnh đạo.
1. Ngay sau khi Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, đứng trước nạn “thù trong, giặc ngoài” và nguy cơ của một cuộc chiến tranh mới mà Đảng CSVN đã lường định là sẽ vô cùng khó khăn, gian khổ, lâu dài và khốc liệt, Đảng CSVN, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lập tức đặt trọng tâm công việc quân sự là xây dựng và tăng cường lực lượng vũ trang.

GIÁ TRỊ CHIẾN LƯỢC GIẢI PHÓNG VÀ PHÁT TRIỂN DÂN TỘC VÌ ĐỘC LẬP TỰ DO CỦA HỒ CHÍ MINH




PGS. LÊ MẬU HÃN
 ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN
Tự do độc lập là quyền trời cho của mỗi dân tộc”-Hồ Chí Minh 
1. Giá trị phổ quát về quyền tự do độc lập của các dân tộc trên thế giới
Lịch sử hình thành và phát triển lâu dài của quốc gia dân tộc đã tạo ra cho dân Việt Nam một triết lý sống vô cùng quý báu. Đó là sự cố kết đùm bọc lẫn nhau, đoàn kết ngày càng bền chặt, có ý thức sâu sắc về chủ quyền cương vực quốc gia, có tinh thần đấu tranh bất khuất, làm chủ thiên nhiên, làm chủ đất nước, làm chủ xã hội. Hạt nhân của truyền thống lịch sử đó là chủ nghĩa dân tộc, ý chí độc lập và khát vọng tự do. Đó là cơ sở tư tưởng cho sự tồn tại và phát triển quốc gia dân tộc, là động lực vĩ đại trong cuộc chiến đấu, đánh bại âm mưu nô dịch và đồng hoá dân tộc Việt Nam của quân xâm lược ngoại bang. Song sức mạnh vô địch của dân tộc không phải lúc nào cũng phát huy thành hiện thực trong cuộc sống chiến đấu và thắng lợi. Vào giữa thế kỷ XIX, chế độ phong kiến Việt Nam đã đi vào sự tột cùng của khủng hoảng và suy tàn thì thực dân Pháp đã nổ súng xâm lược và thống trị, biến Việt Nam từ một quốc gia độc lập thành thuộc địa của chúng. Mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với đế quốc thực dân Pháp trở thành mâu thuẫn cơ bản, chủ yếu và diễn ra ngày càng gay gắt.

Thứ Bảy, 14 tháng 9, 2013

VẬN ĐỘNG, ĐẤU TRANH NGOẠI GIAO VÀ ĐÒN TIẾN CÔNG CHIẾN LƯỢC MẬU THÂN 1968


PGS,TS. Hồ Khang
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam
Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy "Tết Mậu thân" 1968 của quân và dân Việt Nam, không chỉ sau này mà ngay từ ngày đó - khi chiến sự đang diễn ra ở khắp các đô thị trên toàn miền Nam, đã đưa lại những hậu quả và hệ lụy nặng nề cho phía Mỹ. Nó giáng đòn quyết định vào ý chí xâm lược của Mỹ sau bao năm theo đuổi chiến tranh Việt Nam, buộc Mỹ phải đơn phương "xuống thang", thay đổi chiến lược, rút dần quân Mỹ về nước... Để đi đến thắng lợi Tết Mậu thân 1968, cũng như phát huy thắng lợi ấy trong tiến trình cuộc kháng chiến, đặc biệt là đối với việc kéo Mỹ vào thế “đánh – đàm” có sự góp mặt tích cực của cuộc vận động, đấu tranh ngoại giao. Tham luận có mục tiêu làm rõ nội dung vận động, đấu tranh ngoại giao trước và sau sự kiện Tết 1968, làm rõ quan hệ giữa đấu tranh ngoại giao và quân sự đối với việc chuẩn bị điều kiện thuận lợi cho thực hiện và phát huy thắng lợi của đòn tiến công Mậu thân 1968, tạo bước ngoặt, thúc đẩy cuộc kháng chiến chống Mỹ nhanh chóng đi đến thắng lợi.
I. Chủ động mở ra cục diện “đánh – đàm” và ý đồ tiến công chiến lược năm 1968
Đến cuối năm 1966, mặc dù đã thực hiện thí điểm những chiến lược chiến tranh mới với phương tiện kỹ thuật hiện đại, song Mỹ vẫn không giành được những chiến thắng quân sự mang tính quyết định buộc Việt Nam ngồi vào bàn đàm phán.