Thứ Sáu, 16 tháng 8, 2013

CUỘC TIẾN CÔNG CHIẾN LƯỢC NĂM 1972 VÀ BƯỚC NGOẶT TRÊN BÀN ĐÀM PHÁN HỘI NGHỊ PARIS


PGS,TS. Hồ Khang
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam
Năm 1971 là năm đánh dấu sự cố gắng cao nhất của chính quyền R. Nixon trên chiến trường Đông Dương. Huy động lực lượng lớn của quân đội Sài Gòn, với sự phối hợp chiến đấu của không quân và lục quân Mỹ, địch mở cuộc phiêu lưu quân sự ra chiến trường đường 9 - Nam Lào, đi đôi với các cuộc hành quân lên Đông Bắc Campuchia và ở vùng Tây Nguyên Việt Nam. Tuy nhiên, các cuộc hành quân, đặc biệt là cuộc hành quân lớn nhất ở đường 9 - Nam Lào đã thất bại thảm hại, khiến lực lượng quân sự của địch trên chiến trường giảm sút về số lượng, tinh thần suy yếu. Quân đội Sài Gòn cũng như quân đội tay sai ở Campuchia và Lào ngày càng bị cô lập, mâu thuẫn. Sự lục đục, bất hòa trong tập đoàn lãnh đạo Sài Gòn cũng ngày một gay gắt, nhất là giữa Thiệu và Kỳ. Ở các đô thị lớn của miền Nam (Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế..) và phần lớn các thành thị, phong trào đấu tranh diễn ra khá sôi nổi, mục tiêu đấu tranh   đấu tranh cao hơn - đòi lật đổ chính quyền Thiệu, chống bầu cử gian lận, đòi quân Mỹ rút về nước, kết hợp với các yêu cầu dân chủ, dân sinh, bằng “nhiều hình thức phong phú, có khí thế tiến công, đánh dấu một bước biến chuyển về chất lượng”[1], khiến hậu phương, hậu cứ của chính quyền và quân đội Sài Gòn luôn bất ổn. Những thắng lợi to lớn trên mặt trận quân sự và chính trị trên chiến trường Đông Dương đã làm bùng phát các phong trào đấu tranh của nhân dân thế giới, nhân dân tiến bộ Mỹ, đòi chấm dứt chiến tranh xâm lược Việt Nam, tác động trực tiếp đến chính trường nước Mỹ, khiến nội bộ chính quyền Mỹ bị chia rẽ nghiêm trọng[2] trước cuộc bầu cử Tổng thống vào năm 1972. Có thể nhận thấy rằng, những nỗ lực bao vây, cô lập và bóp nghẹt phong trào cách mạng miền Nam của Mỹ đã bị thất bại; chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" đã bị đẩy lùi một bước căn bản. Mặc dù vậy, cuộc đám phán ở Hội nghị Paris vẫn đang bế tắc, vì Mỹ vẫn muốn vớt vát để đàm phán trên thế mạnh và kết thúc chiến tranh có lợi nhất có thể.
Về phía quân, dân miền Nam, với so sánh lực lượng quân sự mạnh hơn hẳn đối phương về mọi mặt, lại nắm quyền chủ động chiến trường và ở trong thế bố trí chiến lược có lợi, các lực lượng kháng chiến miền Nam đẩy mạnh hoạt động, giải phóng nhiều vùng địch chiếm đóng từ trước ở đồng bằng khu V, nông thôn Nam Bộ…, buộc đối phương vào thế bị động chống đỡ. Bên cạnh đó, miền Bắc làm tốt nhiệm vụ hậu phương lớn, chi viện hiệu quả cho chiến trường Đông Dương. Cách mạng Campuchia và Lào có những bước tiến quan trọng và phối kết hợp với cách mạng Việt Nam, hình thành chung một căn cứ rộng lớn, liên hoàn và vững chắc, thực sự là địa bàn đứng chân, xây dựng, phát triển lực lượng kháng chiến. Sự đồng tình ủng hộ, sự giúp đỡ của các nước XHCN anh em cũng như của nhân dân tiến bộ trên thế giới đối với Việt Nam ngày càng được tăng cường và mở rộng. Nhìn chung, thế, lực của của Việt Nam đã mạnh lên nhiều và giành được thế chủ động rõ rệt trên chiến trường, nhất là những địa bàn xung yếu có liên quan mật thiết đến miền Nam Việt Nam. Ở chiến trường chính miền Nam, “nhiều điều kiện thuận lợi mới đã xuất hiện về lực lượng, về thế bố trí, về tinh thần của quân và dân”[3]. Có thể khẳng định rằng, thắng lợi trong năm 1971 là những thắng lợi “có một ý nghĩa chiến lược lớn (…), tạo điều kiện thuận lợi để ta giành những thắng lợi trong thời gian tới”[4].
Phân tích về thế của địch và lực lượng quân dân miền Nam, diễn biến cơ bản của tình hình, Trung ương Đảng nhận định: “Ta đang ở thế thắng, thế thuận lợi, thế đi lên, mặc dầu còn có những khó khăn và nhược điểm cần khắc phục; địch đang ở thế thua, thế khó khăn, thế đi xuống, mặc dầu chúng đang còn có lực lượng và có những chỗ mạnh nhất định”[5]. Trong điều kiện đó, “nếu ta đánh mạnh đồng loạt trên toàn chiến trường thì lực lượng của chúng sẽ bị co kéo và phân tán hơn nữa”[6] và sẽ tạo ra một bước chuyển biến căn bản trong chiến tranh ở miền Nam và Đông Dương, tạo ra bước ngoặt trên bàn Hội nghị Paris.
Như vậy, cục diện mới trên chiến trường đã đem đến thời cơ lớn - thời cơ chiến lược, cho phép đẩy mạnh nỗ lực chủ quan, giáng một đòn quyết liệt vào ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ.
2. Quá trình hình thành ý đồ tiến công chiến lược
Như đã phân tích ở trên, những thắng lợi có ý nghĩa chiến lược của quân và dân miền Nam Việt Nam trong mùa Xuân năm 1971, việc Mỹ phải rút thêm quân cuối năm này và cuộc bầu cử Tổng thống  Mỹ trong năm 1972 là những sự kiện trùng hợp nhau, mà hợp điểm của chúng vừa mở ra khả năng; đồng thời, vừa đặt ra yêu cầu về một đòn tiến công chiến lược. Bắt mạch tình hình, ngay từ giữa năm 1971, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương tập trung cho nhiệm vụ bám sát, phân tích mọi diễn biến của tình hình, bàn thảo tổ chức thực hiện kế hoạch “dốc mọi nỗ lực quyết tâm giành thắng lợi quyết định trong năm 1972”[7] với phương hướng “đẩy mạnh tiến công quân sự, chính trị, ngoại giao, phát triển thế chiến lược tiến công mới trên toàn chiến trường miền Nam và trên cả chiến trường Đông Dương[8].
Nhằm “nắm lấy thời cơ lớn, quật địch những đòn quyết liệt hơn nữa, làm cho ngụy quân, ngụy quyền suy sụp, bắt Mỹ phải chịu thua và rút hết quân về nước”[9], tháng 6-1971, Quân uỷ Trung ương họp, xác định phương hướng tiến công tổng quát: 1). “Đẩy mạnh tiến công quân sự và chính trị trên cả ba vùng, trên khắp các chiến trường Đông Dương[10]; 2). “Miền Nam Việt Nam là chiến trường chính, giành thắng lợi cao nhất”[11]. Về tiến công quân sự, các hướng tiến công chính được Quân uỷ Trung ương dự kiến: “Hướng chủ yếu số 1 là chiến trường biên giới Campuchia và miền Đông Nam Bộ; hướng chủ yếu số 2 là chiến trường Tây Nguyên; hướng phối hợp quan trọng là miền núi Tây Trị - Thiên”[12]. Về cuộc tấn công trên chiến trường miền Nam, đồng chí Lê Duẩn làm rõ thêm: “Đây là một kế hoạch tiến công chiến lược, đẩy mạnh tiến công quân sự đi đôi với đẩy mạnh tiến công chính trị trên cả ba vùng chiến lược, đánh sập ba trụ cột của chính sách Việt Nam hoá chiến tranh của đế quốc Mỹ”[13], nhằm làm thay đổi hẳn cục diện chiến tranh.
Cũng cần nói thêm rằng, trong toàn bộ năm 1971 cho đến thời điểm Trung ương Đảng trù định chớp lấy thời cơ, đưa cách mạng miền Nam tiến lên thì Hội nghị Paris vẫn đang diễn biến rất chậm chạp. Các cuộc họp trong thời gian này không mang lại kết quả nào đáng kể, vì phía Mỹ vẫn muốn đàm phán trên thế mạnh, cuộc đàm phán được dư luận gọi là “cuộc nói chuyện giữa những người điếc”. Điều đáng lưu ý là ngày 26-6-1971, khi Cố vấn Lê Đức Thọ và Bộ trưởng Xuân Thủy gặp riêng Tiến sĩ Kissinger, đưa ra Sáng kiến hòa bình 9 điểm của Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa[14], thì câu trả lời của Mỹ là cuộc đánh phá ác liệt ở Quảng Bình, Vĩnh Linh và hai cuộc hành quân lớn đánh vào cánh đồng Chum (Lào) và đánh vào vùng Mỏ vẹt (Campuchia). Động thái này của chính quyền Mỹ càng cho thấy cần phải đẩy mạnh các hoạt động quân sự, kết hợp chặt chẽ ba mặt quân sự, chính trị, ngoại giao, đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước tiến lên một bước đột phá, tạo ra khả năng buộc Mỹ đi đến giải pháp có lợi cho Việt Nam ở Hội nghị Paris trước bầu cử Tổng thống vào năm 1972, nhằm xoay chuyển tình hình cách mạng miền Nam một cách căn bản.
Đến cuối năm 1971, sau khi phân tích tình hình và nhận thấy so sánh lực lượng tiếp tục chuyển biến có lợi cho quân, dân miền Nam, bất lợi cho đối phương, trong bức điện ngày 29-11-1971 gửi Trung ương Cục về nhiệm vụ trong năm 1972, Bí thư thứ nhất Lê Duẩn dự đoán: “Năm 1972 là năm cách mạng miền Nam có thời cơ lớn để chuyển sang một bước ngoặt, một giai đoạn mà quy luật chiến tranh cách mạng của ta, quy luật nổi dậy và tiến công, tiến công và nổi dậy, làm chủ để tiêu diệt địch, tiêu diệt địch để làm chủ, có khả năng phát huy tác dụng đầy đủ nhất của nó, với tất cả quy mô và sức mạnh của nó[15].
Bước sang năm 1972, tình hình quân sự, chính trị trên bán đảo Đông Dương, đặc biệt là ở miền Nam Việt Nam chuyển biến mau lẹ. Đế quốc Mỹ ngày càng đi sâu vào phòng ngự trên chiến trường miền Nam, tăng cường bình định và xây dựng quân đội Sài Gòn. Những khó khăn của Mỹ về tài chính, kinh tế, chính trị, xã hội do chiến tranh kéo dài ở Đông Dương đưa lại rất ít có khả năng giải quyết. Phân tích âm mưu của Mỹ, Báo cáo chính trị tại Hội nghị Trung ương lần thứ 20 (1-1972) nhận định: “Đối với đế quốc Mỹ, năm 1972 là năm có ý nghĩa hết sức quan trọng”[16], vì đây là thời điểm Mỹ quyết tâm nỗ lực cứu vãn chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, đẩy mạnh hoạt động quân sự[17]; do vậy, nhiệm vụ cần kíp lúc này là: Thứ nhất, “kịp thời nắm vững những thời cơ thuận lợi và tạo nên thời cơ mới”[18]; thứ hai, “đẩy mạnh tiến công quân sự, chính trị, kết hợp với tiến công ngoại giao, phát triển thế tiến công chiến lược mới”[19]. Mục tiêu của đòn tiến công là buộc đế quốc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh trên thế thua bằng một giải pháp chính trị có lợi cho Việt Nam mà chúng có thể chấp nhận được.
Như vậy, kết hợp chặt chẽ giữa tiến công quân sự, đấu tranh chính trị và ngoại giao là điểm nổi trội của đòn tiến công chiến lược 1972; trong đó, mặt trận quân sự quan trọng hàng đầu, hỗ trợ trực tiếp cho đấu tranh ngoại giao tại Hội nghị Paris, thúc đẩy cuộc đàm phán vẫn trong vòng bế tắc. Bước ngoặt trên chiến trường phải tạo đà và trực tiếp làm nên bước ngoặt trên bàn đàm phán, vì chúng ta chỉ có thể giành được trên bàn hội nghị những cái mà chúng ta đã giành được trên chiến trường”[20].
Đầu năm 1972, khi thời cơ chiến lược ngày càng chín muồi, Quân uỷ Trung ương khẩn trương họp bàn phương hướng phối hợp đấu tranh và quyết định đánh bại địch bằng ba đòn chiến lược: 1). Đòn tiến công của bộ đội chủ lực trên những hướng và chiến trường có lợi; 2). Đòn tiến công và nổi dậy ở các vùng nông thôn đồng bằng quan trọng; 3). Đòn tiến công của phong trào đấu tranh chính trị ở đô thị.
Trải qua một thời gian dài chuẩn bị và cân nhắc, ngày 11-3-1972, Thường vụ Quân uỷ Trung ương quyết định chính thức phương án tiến hành cuộc tiến công chiến lược 1972. So với phương án được xác định vào tháng 6-1971, thì phương án mới có một số thay đổi: Một là, Trị - Thiên hướng phối hợp quan trọng nay chuyển thành hướng tiến công chiến lược chủ yếu; hai là, chiến trường Đông Nam Bộ và Tây Nguyên hướng chủ yếu số 1 và số 2 nay cùng với Khu 5 đẩy mạnh tác chiến quy mô vừa và lớn để thành một cuộc tiến công chiến lược trên toàn miền Nam và sẵn sàng đưa một sư đoàn chủ lực xuống đồng bằng khi có thời cơ.
Chiến trường Trị - Thiên được chọn làm hướng tiến công chiến lược chủ yếu bởi hai lý do: 1). Vào thời điểm tháng 3-1973, tương quan so sánh lực lượng địch- ta đã có thay đổi đáng kể trong bố trí chiến trường; 2). Trị - Thiên là địa bàn gần hậu phương lớn, điều kiện tiếp tế kịp thời, có thể chủ động sử dụng lực lượng binh chủng hợp thành mạnh ở miền Bắc tham gia trực tiếp vào cuộc tiến công một cách thuận lợi. Chiến dịch Trị - Thiên được Quân ủy Trung ương xác định là một chiến dịch quy mô lớn, một chiến dịch hợp đồng binh chủng, một chiến dịch tổng hợp cả về quân sự và chính trị, có nhiệm vụ quan trọng số một là tiêu diệt lực lượng quân sự địch, nhất là quân chủ lực và phương tiện chiến tranh, làm cho lực lượng đối phương bị tổn thất nặng nề, phương tiện, tinh thần chiến đấu suy sụp, làm thay đổi so sánh lực lượng có lợi cho cách mạng miền Nam.
Ngày 23-3-1972, Bộ Chính trị thông qua phương án mà Quân ủy Trung ương đã lựa chọn và với tinh thần cách mạng tiến công, cuối tháng 3-1972, Bộ Chính trị quyết định mở cuộc tổng tiến công trên ba mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao trên tinh thần lường định cẩn trọng “mọi cách đối phó quyết liệt của địch và có sự chuẩn bị để đánh bại chúng với mức cao nhất”[21], nhằm đẩy địch lún sâu vào thế bị động, tạo sức mạnh trên bàn đàm phán Hội nghị Paris. Ngày 30-3-1972, tiếng súng đồng loạt vang lên trên các chiến trường Trị - Thiên, Tây Nguyên, Khu 5 và Đông Nam Bộ, báo hiệu chiến dịch tiến công chiến lược lịch sử năm 1972 đã bắt đầu.
3. Kết hợp giữa thắng lợi quân sự với đấu tranh ngoại giao trên bàn đàm phán
Cho đến trước cuộc tiến công Xuân - Hè 1972, cuộc đấu tranh trên bàn đàm phán Hội nghị Paris giữa Việt Nam và Mỹ tiếp tục diễn ra căng thẳng, quyết liệt, nhưng hầu như không có tiến triển. Tháng 5-1972, khi cuộc tiến công chiến lược của quân, dân miền Nam trên chiến trường đang diễn ra quyết liệt, thì tại Hội nghị Paris, cuộc đấu tranh ngoại giao vẫn đang trong giai đoạn gay go, bế tắc, bởi vì, tuy miền Nam đang thắng lớn “nhưng chưa đến mức buộc Mỹ phải buông con bài Việt Nam và Đông Dương”[22]. Vì thế, để đạt được một giải pháp vững chắc tại Hội nghị Paris, cần tiếp tục đẩy mạnh tấn công quân sự, đặc biệt, phải giành cho được thắng lợi lớn trong tháng 5 và tháng 6 năm 1972, “tạo nên một cục diện chiến lược mới trên toàn bộ chiến trường miền Nam có lợi về mọi mặt, trong thời gian đó, và trên cơ sở đó, chúng ta tiếp tục tấn công địch, khuếch trương thắng lợi”[23].
Thực hiện chủ trương trên, từ cuối tháng 4-1972, cuộc tiến công quy mô lớn của quân và dân Quảng Trị được đẩy mạnh. Tháng 5-1972, giải phóng toàn bộ tỉnh Quảng Trị; trung tuần tháng 6-1972,  đợt 3 chiến dịch tiến công Trị - Thiên thu được nhiều kết quả. Các chiến dịch Bắc Tây Nguyên, miền Đông Nam Bộ cũng đã thực hiện được phần cơ bản của ý định chiến lược, làm thay đổi cục diện chiến trường. Đánh giá toàn bộ diễn biến và xu hướng chuyển động của cục diện chung, Bộ Chính trị nhận định rằng, thắng lợi Xuân - Hè 1972 không những là một bước phát triển mới về số lượng, mà còn là một sự chuyển biến mới, với một chất lượng mới của cục diện chiến tranh giữa nhân dân Việt Nam với đế quốc Mỹ, khiến đế quốc Mỹ vấp phải một thất bại to lớn và “đó không phải là một bước thất bại bình thường của một chiến lược chiến tranh, mà là một bước suy sụp mới của cả quá trình cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ”[24]. Trên cơ sở đó, Bộ Chính trị quyết định phát huy thắng lợi trên chiến trường, khai thác khó khăn từ trong nội bộ Mỹ, đẩy mạnh đấu tranh ngoại giao trên bàn Hội nghị Paris, buộc Mỹ phải đàm phán theo hướng giải quyết toàn bộ vấn đề về chiến tranh Việt Nam.
Đẩy mạnh đấu tranh trên bàn đàm phán, từ giữa tháng 7 đến tháng 8-1972, các cuộc gặp riêng giữa Cố vấn Lê Đức Thọ, Bộ trưởng Xuân Thủy với H. Kissinger tiếp tục diễn ra song song với các cuộc họp công khai. Nhìn chung, trong các cuộc gặp riêng trên đây, Việt Nam luôn vững vàng, chủ động tiến công, giữ vững nguyên tắc nhưng mềm dẻo về sách lược, còn phía Mỹ thì ngoan cố, sử dụng thủ đoạn. Những cuộc gặp riêng này diễn ra trong bối cảnh cuộc tiến công Xuân - Hè của quân dân  miền Nam giành được những thắng lợi to lớn, quyết định, giáng một đòn quyết liệt vào chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh”, kết hợp hiệu quả với đòn tiến công ngoại giao, buộc Mỹ phải từng bước xuống thang chiến tranh, đi vào giải quyết vấn đề với Việt Nam theo hướng thực chất. Đây chính là bước ngoặt quan trọng, tạo đà cho những bước tiến ngoại giao cuối năm 1972, đầu năm 1973.
Giữa tháng 9-1972, tình hình chiến sự ở Quảng Trị diễn biến phức tạp, quân, dân miền Nam đã phải chuyển sang phòng ngự sau khi mất Thành Cổ. Cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ đang ở thời điểm cuối cùng. Trên bàn đàm phán, tiếp tục thế giằng co về vấn đề chính trị ở miền Nam Việt Nam - một trong hai vấn đề chủ chốt cho một giải pháp về cuộc chiến tranh giữa Mỹ và Việt Nam. Lúc này, thắng lợi về quân sự trên chiến trường sẽ là lợi thế của các bên trên bàn Hội nghị. Vì thế, cả phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và đối phương đều dồn sức đẩy mạnh hoạt động quân sự nhằm đáp ứng đòi hỏi của đấu tranh ngoại giao. Chiến trường Quảng Trị trở thành nơi giành giật quyết liệt giữa quân dân miền Nam và địch, thành cổ Quảng Trị trở thành thước đo cho quyết tâm và ưu thế về chính trị của mỗi bên. Đối phương chuẩn bị ráo riết cho cuộc tiến công lớn, gấp rút hoàn chỉnh phương án đánh chiếm toàn bộ tỉnh Quảng Trị bằng cuộc hành quân mang tên “Lam Sơn 72A”. Cân nhắc tình hình, Bộ Chính trị chỉ thị cho Đoàn Ngoại giao Việt Nam tại Paris phá vỡ bế tắc, “tạo bước ngoặt quyết định trong đàm phán” và phải ép bằng được Mỹ ký Hiệp định chính thức, đáp ứng yêu cầu lớn nhất của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hiện nay là chấm dứt dính líu quân sự của Mỹ ở miền Nam Việt Nam, chấm dứt chiến tranh bằng không quân và thả mìn ở miền Bắc. Để đạt được mục đích đó, Bộ Chính trị chủ trương tạm gác một số yêu cầu khác về nội bộ miền Nam, nới lỏng vấn đề chính quyền ở miền Nam Việt Nam[25]. Trên tinh thần đó, Đoàn Ngoại giao Việt Nam đưa ra lập trường công khai mới qua Tuyên bố ngày 11-9-1972, đòi hỏi giải quyết vấn đề nội bộ ở miền Nam phải xuất phát “từ thực tế ở miền Nam có hai chính quyền, hai quân đội và các lực lượng chính trị khác”[26], ngụ ý tách vấn đề quân sự ra khỏi các vấn đề chính trị như là một nhân nhượng đối với yêu cầu dai dẳng của Mỹ từ khi bắt đầu đàm phán. Ngày 15-9-1972, Việt Nam và Mỹ bước vào cuộc gặp riêng lần thứ 17 trong bối cảnh nước Mỹ tích cực chuẩn bị cho bầu cử và quân đội Sài Gòn đã lấy lại được Quảng Trị. Phía Mỹ đưa ra đề nghị mới gồm 10 điểm, ngoan cố không tôn trọng quyền thống nhất của Việt Nam, về thực chất, chưa muốn chấm dứt dính líu quân sự ở miền Nam Việt Nam.
Thời gian dịch chuyển dần sang những tháng cuối năm 1972, đầu năm 1973 và hoạt động quân sự của cả quân dân miền Nam và địch trên chiến trường miền Nam gắn chặt với diễn biến trên bàn Hội nghị Paris. Các nỗ lực của quân đội Sài Gòn đánh ra các vùng mới giải phóng bị ngăn chặn quyết liệt. Âm mưu chiếm lại và tái lập vùng chiếm đóng đã bị rơi vào tay Quân giải phóng của địch bị thảm bại. Trong tình hình đó, ngày 8-10-1972, Đoàn Ngoại giao VNDCCH đưa ra bản Dự thảo Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam với những nhân nhượng nhất định[27]. Ngày 22-10- 1972, văn bản Hiệp định đã hoàn thành và dự định ngày ký chính thức là ngày 31-10-1972. Tuy nhiên, khi cuộc vận động bầu cử sắp kết thúc, Tổng thống R. Nixon thấy rằng vị trí của ông ta đã đủ mạnh để không cần đến việc ký kết Hiệp định hòa bình; đồng thời, nhằm trấn an chính quyền Nguyễn Văn Thiệu, R. Nixon tiếp tục kế hoạch chi viện với viện trợ khổng lồ là 260.000 tấn hàng chiến tranh trong vòng hai tháng[28].
Để đập tan âm mưu của Mỹ, trên cơ sở phát huy những thắng lợi trên chiến trường, ngày 26-10-1972, Chính phủ VNDCCH quyết định công khai quá trình đàm phán và nội dung Thỏa thuận 22- 10, khiến Mỹ không dễ dàng phá hoại nội dung Hiệp định, làm nội bộ chính quyền Thiệu rối ren, mâu thuẫn Mỹ - Thiệu tăng lên. Tuy nhiên, với bản chất ngoan cố, không dễ gì Mỹ nhượng bộ. Phân tích tình hình, Trung ương Đảng đi tới nhận định: “Trong thời gian tới, có thể Mỹ sẽ một mặt kéo dài đàm phán hơn nữa, một mặt kiếm cớ bịa đặt rồi đổ trách nhiệm cho ta, đồng thời trên thực tế chúng sẽ tăng cường chiến tranh ở miền Nam và có những hành động quân sự ác liệt hơn đối với miền Bắc”[29]. Đúng như dự đoán, để bắt Việt Nam phải nhân nhượng thêm, từ tối 18- 12 đến 30-12-1972, Mỹ dùng máy bay B52 ném 10 vạn tấn bom đạn xuống các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, trọng tâm là Hà Nội, Hải Phòng. Dư luận Mỹ phẫn nộ về cuộc ném bom. Các cuộc đàm phán tạm ngừng sau ngày 13-12-1972.
Trong suốt 12 ngày đêm, quân dân miền Bắc đã kiên cường chiến đấu, giáng trả địch quyết liệt, đập tan cuộc tập kích chiến lược của không quân Mỹ, giáng cho không quân Mỹ đòn nặng nề nhất trong lịch sử xâm lược. Thất bại đó đã làm tan vỡ cố gắng cuối cùng của chính quyền Mỹ sử dụng sức mạnh huỷ diệt để đạt được mục tiêu “đàm phán trên thế mạnh”. Ngày 22-12-1972, Mỹ gửi Công hàm đề nghị gặp lại ngày 3-1-1973. Ngày 26-12-1972, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kiên quyết đòi Mỹ bỏ thủ đoạn đe dọa để thương lượng, khi nào trở lại tình hình trước ngày 18-12-1972,  hai bên sẽ tiếp tục thảo luận. Trong tư thế của người chiến thắng, ngày 8-1-1973, các đồng chí Lê Đức Thọ và Xuân Thủy trở lại bàn đàm phán. Ngày 13-1-1973, văn bản đã được thỏa thuận[30]. Đúng 12h 30p (giờ Paris) ngày 23-1-1973, Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ cùng Cố vấn H. Kissinger ký tắt vào văn bản Hiệp định. Ngày 27-1-1973, diễn ra lễ ký kết chính thức Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, chấm dứt cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam.
Hiệp định Paris được ký kết là thành quả rực r của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại, của cuộc đấu tranh, đấu trí kiên quyết, sáng tạo trên ba mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao. Bằng trí thông minh và lòng quả cảm, bằng trí tuệ và bản lĩnh, dân tộc Việt Nam đã biết kết thúc thắng lợi cuộc chiến tranh giải phóng Tổ quốc lớn nhất, quyết liệt nhất thời đại một cách tài tình, kết thúc một giai đoạn cách mạng và kháng chiến vẻ vang, “mở ra một giai đoạn mới: Đấu tranh để giữ gìn hoà bình, tiếp tục đưa cách mạng tiến lên”[31]. Năm tháng sẽ qua đi, lịch sử đầy ắp các sự kiện, nhưng lịch sử khách quan và công bằng sẽ còn lưu mãi dấu ấn và ghi tạc một vị trí xứng đáng cho năm 1972 máu lửa trong pho sử vàng dựng nước và giữ nước của dân tộc.
Có thể Dowload tại địa chỉ: Mục Đồng nghiệp, Trang Web TRI THỨC

[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, tập 33, tr. 27.
[2]Tháng 4.1971, Hạ viện Mỹ biểu quyết đòi rút hết quân Mỹ khỏi việt Nam với số phiếu 122/260. Ngày 17.6. 1971, số phiếu biểu quyết của Hạ viện về việc rút quân Mỹ, chấm dứt chiến tranh Việt Nam tăng lên 158/224 và ngày 28.6 số phiếu đó là 175/219 và Hạ viện Mỹ quyết nghị yêu cầu Chính phủ chấm dứt chiến tranh Việt Nam. Đây là lần đầu tiên Hạ viện Mỹ bỏ phiếu huỷ bỏ "chính sách Việt Nam" của chính quyền bằng luật.
[3] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, tập 33, tr. 31.
[4] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, tập 33, tr. 208.
[5] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, tập 33, tr. 31.
[6] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, tập 33, tr. 207.
[7] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, tập 33, tr. 210.
[8] Đảng Lao động Việt Nam, Nghị quyết Bộ chính trị, tháng 5.1971, lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.
[9] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, tập 32, tr. 340.
[10] Nghị quyết Quân ủy Trung ương tháng 6-1971, lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.
[11] Nghị quyết Quân ủy Trung ương tháng 6-1971, lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.
[12] Nghị quyết Quân ủy Trung ương tháng 6-1971, lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.
[13] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, tập 32, tr. 380.
[14]Đây là Sáng kiến với các nội dung chính như đòi Mỹ phải rút quân, thả tù binh, thành lập chính phủ hòa bình, độc lập, trung lập và dân chủ, tôn trọng độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.
[15]Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, tập 32, tr. 473.
[16] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, tập 33, tr. 33.
[17]Đây là thời điểm Mỹ quyết thực hiện cho được mục tiêu tiếp tục giữ vững cục diện trên các chiến trường, nhất là ở miền Nam Việt Nam, duy trì các chính quyền tay sai, giành thắng lợi quân sự để tạo được thế mạnh, buộc chúng ta phải chấp nhận một giải pháp chính trị có lợi cho Mỹ, hoặc tiếp tục chiến tranh mà R. Nixon vẫn trúng cử Tổng thống.
[18] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, tập 33, tr. 37.
[19] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, tập 33, tr. 37.
[20] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, tập 28, tr. 174.
[21]Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, tập 33, tr. 225.
[22]Dẫn theo Lưu Văn Lợi, Nguyễn Anh Vũ: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kítxinhgiơ tại Paris, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 1996, tr. 440.
[23] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, tập 33, tr. 265.
[24] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, tập 33, tr. 335-336.
[25]Không đòi xóa chính quyền Sài Gòn, đòi Thiệu phải từ chức; chỉ cần một hình thức cơ cấu chính quyền hòa hợp, hòa giải dân tộc theo phương án thấp nhất.
[26]Báo Nhân dân, ngày 12- 9- 1972, tr. 4.
[27]Đó là hai nhân nhượng: 1). Công nhận sự tồn tại của chính quyền Sài Gòn có Thiệu; 2). Giải quyết vấn đề Việt Nam theo mong muốn của Mỹ, tách riêng vấn đề quân sự và chính trị, không đòi lập chính quyền hòa giải và hòa hợp dân tộc trước khi có ngừng bắn, mà để hai bên miền Nam giải quyết việc đó trong vòng ba tháng đầu sau ngừng bắn. Hành động này của phía Việt Nam khiến phái đoàn Mỹ bị bất ngờ và việc chúng ta chủ động đưa ra dự thảo Hiệp định với những yêu cầu mềm dẻo, buộc phía Mỹ, tại cuộc họp, phải công khai thừa nhận thái độ thiện chí của Việt Nam, cho đây là một sự kiện mở ra một trang mới trong thương lượng có khả năng hai bên sớm đi đến giải quyết vấn đề chiến tranh Việt Nam.
[28] Gabriel Kolko, Giải phẫu một cuộc chiến tranh, Sđd, tr. 125.
[29] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, tập 33, tr. 408.
[30]Về cơ bản vẫn là văn bản ngày 20-10-1972 và so với lập trường ban đầu, hai bên đều đã rút bớt một số đòi hỏi quá cao: Mỹ rút bỏ việc đòi hai bên (Mỹ và VNDCCH) cùng rút quân và đòi thừa nhận chính quyền Sài Gòn là chính quyền hợp pháp duy nhất ở miền Nam; chúng ta rút bớt việc đòi xóa bỏ chế độ Sài Gòn.
[31] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, tập 34, tr. 5.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

CHÀO BẠN! NẾU CÓ THẮC MẮC HOẶC ĐÓNG GÓP, XIN ĐỂ LẠI Ý KIẾN BẰNG TIẾNG VIỆT CÓ DẤU. CHÚNG TÔI RẤT VUI VÌ BẠN ĐÃ GHÉ THĂM!