Thứ Hai, 19 tháng 8, 2013

HẬU PHƯƠNG MIỀN BẮC TRONG SỰ NGHIỆP KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC (1954-1975)


                     PGS, TS HỒ KHANG
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam
           Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đối thủ của nhân dân Việt Nam là đế quốc Mỹ - đế quốc mạnh nhất hành tinh. Để đương đầu và đánh bại kẻ thù xâm lược, nhất định dân tộc Việt Nam phải mạnh lên. Muốn vậy, ngoài đường lối kháng chiến đúng đắn, cần phải có đường lối và biện pháp xây dựng, bảo vệ hậu phương nhằm tạo nên sức mạnh cần thiết ấy.
          Ngay sau khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc, miền Bắc sạch bóng quân xâm lược, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 (khoá II) đã nhận định: “Miền Bắc là chỗ đứng của ta. Bất kể trong tình hình nào, miền Bắc cũng phải được cũng cố”1. Tiếp đó, phát biểu trong Đại hội Mặt trận dân tộc thống nhất toàn quốc (tháng 9 -1955), Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Miền Bắc là nền tảng, là gốc rễ lực lượng đấu tranh của nhân dân ta. Nền có vững, nhà mới chắc. Gốc có mạnh cây mới tốt”2. Để cũng cố miền Bắc thành nền gốc cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà, Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ III, năm 1960, đã chủ trương phải tiến hành cách mạng XHCN ở miền Bắc; cách mạng XHCN ở miền Bắc gắn bó chặt chẽ với cách mạng DTDCND ở miền Nam và giữ vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển của toàn bộ sự nghiệp cách mạng của cả nước, đối với cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà; còn cách mạng miền nam có một vị trí rất quan trọng, có tác dụng quyết định trực tiếp đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam.
          Như vậy, từ đầu, vai trò và vị trí của miền Bắc đã được Đảng Lao động Việt Nam xác định rất rõ. Để làm tròn vai trò đó, trong kháng chiến chống Mỹ, hậu phương miền Bắc được xây dựng theo một đường lối phù hợp - đó là đường lối tiến hành cách mạng XHCN ở miền Bắc; gắn chặt nhiệm vụ xây dựng với nhiệm vụ bảo vệ vững chắc hậu phương; gắn chặt nhiệm vụ chiến lược của hậu phương với nhiệm vụ chiến lược của tiền tuyến. Chế độ xã hội ưu việt được thiết lập không những đảm bảo cho miền Bắc trở thành hậu phương vững mạnh toàn diện, được tổ chức chặt chẽ mà còn mang lại cho người thợ trong xưởng máy, dưới hầm lò, người nông dân trên đồng ruộng, người chiến sĩ trên chiến hào sức mạnh tập thể to lớn và niềm tin vào tương lai. Đó là nguồn gốc, là nền tảng tạo nên sức mạnh bền vững của hậu phương miền Bắc suốt những năm kháng chiến chống Mỹ.
          Nhờ thế, suốt những năm xây dựng, chiến đấu gian lao mà rất đỗi hào hùng thuở ấy, miền Bắc đã vươn lên hoàn thành sứ mệnh lịch sử vẻ vang của mình. Miền Bắc, với Thủ đô Hà Nội, là nơi các cơ quan chiến lược đề ra và chỉ đạo thực hiện đường lối kháng chiến; điều hành chỉ huy chiến tranh trên cả hai miền. Về phương diện đó, sự ổn định, vững bền của miền Bắc, sự đồng tâm, nhất trí của người hậu phương đã là một trong số những nhân tố nền tảng để toàn dân, toàn quân trên cả hai miền Nam – Bắc thực hiện thắng lợi đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
          Đoàn kết quốc tế, phát huy sức mạnh của thời đại là một bộ phận hợp thành của đương lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Trên vấn đề này, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đặt hoạt động đối ngoại, đấu tranh ngoại giao thành một mặt trận có tầm quan trọng chiến lược, một mũi tiến công sắc bén. Với tư cách là một quốc gia độc lập, có chủ quyền, có pháp lý của Hiệp định Gơ-ne-vơ về Việt Nam, được nhiều nước trên thế giới công nhận, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã tiến hành các hoạt động đối ngoại và đấu tranh ngoại giao, góp phần tạo nên sức mạnh tổng hợp to lớn. Trên thực tế, với tác động của hoạt động đối ngoại và của chính cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam, mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ, đoàn kết với Việt Nam chống đế quốc Mỹ đã hình thành và phát triển; liên minh đoàn kết chiến đấu giữa ba dân tộc trên bán đảo Đông Dương tiếp tục được cũng cố, tăng cường.
          Về phía Mỹ, miền Bắc XHCN luôn là một nhân tố chi phối mọi tính toán chiến lược của Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Nhận biết rất rõ vai trò, vị trí miền Bắc, giới lãnh đạo Oa-sinh-tơn vừa đẩy mạnh nỗ lực quân sự ở miền Nam, vừa gia tăng các hoạt động chống phá miền Bắc. Đế quốc Mỹ đã hai lần tiến hành chiến tranh phá hoại, bằng không quân và hải quân với quy mô và cường độ ngày càng mở rộng, ngày càng khốc liệt đối với miền bắc và đối với tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn. Mục tiêu chiến lược của đế quốc Mỹ là bẻ gãy ý chí kháng chiến của nhân dân Việt Nam, phá hoại tận gốc tiềm lực và sức mạnh của cuộc kháng chiến, ngăn chặn sự chi viện từ ngoài vào miền Bắc và từ miền Bắc vào miền Nam. Cuộc chiến đấu anh dũng của quân dân Việt Nam trên vùng trời, vùng biển miền Bắc và trên tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn đã đập tan những nỗ lực quân sự khổng lồ của đế quốc Mỹ, bảo vệ vững chắc hậu phương kháng chiến, bảo vệ và mở rộng tuyến vận tải chiến lược Bắc - Nam...Cuộc chiến đấu đó gây ra những tổn thất về sinh lực và phương tiện chiến tranh cho đế quốc Mỹ, góp phần rất quan trọng làm lung lay ý chí xâm lược của Oa-sinh-tơn.
          Suốt 21 năm chiến tranh, đặc biệt từ sau Nghị quyết Hội nghị BCHTW Đảng lần thứ 15 (1959), miền Bắc bắt đầu tổ chức chi viện sức người, sức của cho miền Nam, cho cách mạng Lào và sau đó, cho cách mạng Cam-pu-chia. Sự chi viện đó là to lớn, toàn diện, liên tục, với nhịp độ ngày càng tăng, đáp ứng đòi hỏi của chiến trường. Năm 1959, miền Bắc đưa vào miền Nam hơn 500 người. Năm 1964, con số đó tăng lên hơn 17 nghìn. Trong thời gian diễn ra những cuộc tiến công chiến lược (1968, 1972, 1975), nhân lực động viên ở miền Bắc phục vụ nhu cầu chiến tranh tăng gấp 4 đến 5 lần so với trước. Không tính số quân bảo vệ miền Bắc, làm lực lượng dự bị chiến lược, chiến đấu và công tác trên tuyến vận tải 559, chỉ tính riêng số quân đưa vào miền Nam trong các năm kể trên như sau: năm 1968 là 141 nghìn, năm 1972 xấp xỉ 153 nghìn, năm 1975 là 117 nghìn. Ngoài lực lượng trực tiếp chiến đấu, các lực lượng vận tải, đảm bảo giao thông, mở đường và các lực lượng bảo đảm khác gần hàng chục vạn người cũng được động viên từ miền Bắc.
          Về vật chất, miền Bắc đã tổ chức tiếp nhận hàng triệu tấn vật chất,vũ khí, phương tiện kỹ thuật do nước ngoài viện trợ; tổ chức nghiên cứu, thiết kế, cải biên, cải tiến nhiều loại vũ khí, khí tài; tổ chức vận chuyển vượt hàng nghìn km dưới bom đạn đánh phá của địch tới các chiến trường, các vùng giải phóng. Trong những năm từ 1965 đến 1968, miền Bắc đưa vào miền Nam khối lượng vật chất gấp 10 lần so với những năm từ 1961 đến 1964. Con số đó trong những năm chống chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh còn tăng gấp nhều lần.
          Bên cạnh việc chi viện sức người, sức của cho chiến trường, miền Bắc còn tiếp nhận hàng chục vạn cán bộ, chiến sỹ, con em miền Nam tập kết; đón tiếp gần 310.000 thương bệnh binh và hơn 350.000 lượt người từ tiền tuyến ra hậu phương chữa bệnh, học tập... Với chế độ xã hội mới được xây dựng và tỏ rõ sức sống mãnh liệt trong khói lửa chiến tranh, miền Bắc thực sự là chỗ dựa vững chắc về tinh thần cho những người ra trận, cho đồng bào, cán bộ, chiến sĩ đang ngày đêm chiến đấu ở miền Nam, đặc biệt trong những lúc cách mạng miền Nam bị tổn thất, gặp nhiều thử thách, khó khăn…
          Vào giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh, trong 2 năm 1973 và 1974, 25 vạn thanh niên miền Bắc gia nhập lực lượng vũ trang, 15 vạn quân từ biệt hậu phương vào Nam chiến đấu, hàng vạn cán bộ, nhân viên kỹ thuật, thanh niên xung phong miền Bắc tới các vùng giải phóng ổn định tình hình. Lực lượng công binh, bộ đội đoàn 559, ngành vận tải miền Bắc cùng hàng vạn dân công hoả tuyến dồn sức sửa rộng đường Trường Sơn, đặt thêm đường ống dẫn dầu. Trong hai năm này, 397 nghìn tấn vật chất từ miền Bắc được chuyển tới mặt trận, bằng 54% tổng khối lượng vật chất giao cho các chiến trường trong suốt 16 năm trước đó. Trên miền Bắc, Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương quyết định thành lập các quân đoàn chủ lực. Các quân chủng, binh chủng cũng khẩn trương phát triển thêm nhiều đơn vị mới.
          Được hậu phương miền Bắc chi viện mạnh mẽ, toàn diện, thế và lực cách mạng mìên Nam biến chuyển nhanh chóng, áp đảo quân địch. Trước tình hình đó, tháng 1.1975, Bộ Chính trị hạ quyết tâm động viên cao độ sức mạnh của cả nước mở cuộc Tổng tiến công chiến lược giảI phóng hoàn toàn miền Nam.
          Thực hiện quyết tâm chiến lược của Bộ Chính trị, cả miền Bắc hướng ra tiền tuyến, dốc sức chi viện cho miền Nam. Các đoàn cán bộ của đảng, của Bộ Quốc phòng lên đường tới các mặt trận để đôn đốc, kỉêm tra công tác chuẩn bị. Bộ Chính trị quyết định thành lập Hội đồng chi viện miền Nam ở Trung ương do Thủ tướng Phạm Văn Đồng làm Chủ tịch. Trên mọi nẻo đường dẫn ra mặt trận, những đoàn xe vận tải nối đuôi đi suốt ngày đêm, chuyển nhanh vào Nam các binh đoàn chủ lực, các đoàn cán bộ dân, chính, Đảng và hàng vạn tấn vật chất, tạo ra thế và lực áp đảo trước khi chiến dịch lịch sử Hồ Chí Minh bắt đầu. Nhờ đó, cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975 toàn thắng, kết thúc vẻ vang cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Vai trò của miền Bắc xã hội chủ nghĩa trong cuộc chống Mỹ, cứu nước nói chung, trong Đại thắng mùa Xuân 1975 nói riêng bác bỏ những quan điểm muốn phủ định hoặc làm mờ đi những thành tựu và cống hiến lớn lao của hậu phương miền Bắc. Dù ngày nay, trong công cuộc đổi mới, nhiều vấn đề quan trọng của chủ nghĩa xã hội đang được nhận thức lại, lịch sử vẫn cho thấy: “Không thể nào có thắng lợi của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nếu không có miền Bắc xã hội chủ nghĩa suốt 16 năm qua luôn luôn cùng một lúc làm hai nhiệm vụ chiến lược. Đặc biệt từ năm 1965, khi Hội nghị lần thứ 11 Ban chấp hành Trung ương Đảng khẳng định chống Mỹ, cứu nước là nhiệm vụ hàng đầu của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân thì miền Bắc đã dốc vào chiến tranh cứu nước và giữ nước toàn bộ sức mạnh của chế độ xã hội chủ nghĩa, và đã làm tròn một cách xuất sắc nghĩa vụ căn cứ địa cách mạng của cả nước”[1]. Sự thật, những gì chủ nghĩa xã hội thời chiến đã làm được ở miền bắc, nhất là về xây dựng chế độ mới của người lao động và đào tạo con người mới có giác ngộ, có lý tưởng, có khát vọng, có trình độ, một lòng hy sinh phấn đấu cho nền độc lập, tự do, toàn vẹn sông núi của Tổ quốc, chính là nguồn gốc, là nền tảng làm nên sức mạnh to lớn của quân và dân Việt Nam  trong cuộc đương đầu và đánh bại kẻ thù xâm lược.


1 Văn kiện Đảng toàn tập, NXBCTQG, HN, tập 16, tr 577
2 Hồ Chí Minh toàn tập, , NXBCTQG, HN 1996, Tập 8, tr 67
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 37, Nxb CTQG, 2004, tr. 490.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

CHÀO BẠN! NẾU CÓ THẮC MẮC HOẶC ĐÓNG GÓP, XIN ĐỂ LẠI Ý KIẾN BẰNG TIẾNG VIỆT CÓ DẤU. CHÚNG TÔI RẤT VUI VÌ BẠN ĐÃ GHÉ THĂM!