Thứ Năm, 29 tháng 8, 2013

MỘT SỐ VẤN ĐỀ TRONG NGHIÊN CỨU, BIÊN SOẠN CÔNG TRÌNH LỊCH SỬ KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC


PGS.TS Hồ Khang
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam
Trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã phải tiến hành nhiều cuộc chiến tranh bảo vệ và giải phóng Tổ quốc. Quá nửa thời gian trong lịch sử hàng ngàn năm đó, các thế hệ người Việt Nam đã dồn tâm lực các hoạt động quân sự để phấn đấu cho độc lập, tự do. Cũng vì thế, mà so với nhiều quốc gia trên thế giới, lịch sử quân sự, lịch sử chiến tranh Việt Nam có bề dày và nhiều nét đặc sắc. Trong logic ấy, lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước luôn thu hút được sự quan tâm của giới nghiên cứu, thể hiện qua số lượng đồ sộ các công trình; đồng thời cũng đặt ra nhiều vấn đề cần luận bàn, đặc biệt là các vấn đề về phương pháp nghiên cứu, góc độ tiếp cận, tư liệu lịch sử, nội dung nghiên cứu … Bài viết này, trên cơ sở quan sát một số công trình viết về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước được xuất bản những năm qua ở Việt Nam, muốn đưa ra một số trao đổi nhỏ về phương pháp nghiên cứu.
1. Vấn đề đối tượng nghiên cứu và phân kỳ lịch sử
Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam mang tính chính nghĩa, cách mạng, toàn dân, toàn diện.., nhằm mục tiêu giải phóng dân tộc kết hợp chặt chẽ với giải phóng giai cấp và giải phóng nhân dân; kết hợp giữa độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội. Đối tượng của công trình lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là bản thân cuộc kháng chiến đó với toàn bộ quá trình phát sinh, phát triển và kết thúc của nó.

Thứ Tư, 28 tháng 8, 2013

ĐƯỜNG HỒ CHÍ MINH TRÊN BIỂN – TUYẾN VẬN TẢI CHIẾN LƯỢC HUYỀN THOẠI


PGS.TS. Hồ Khang
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam
Trong suốt 14 năm liên tục (1961-1975), đã tồn tại một tuyến vận tải đặc biệt với những tuyến, nhánh đường, bến bãi khắp các tỉnh ven biển miền Nam, len lỏi qua chiến trường Khu V khốc liệt vào đến tận cửa ngõ Sài Gòn, vận chuyển vũ khí chi viện đắc lực cho nhiều hướng chiến trường, nhiều chiến dịch lớn, nhiều địa bàn trọng yếu mà đường bộ chưa với tới. Vượt qua những thử thách khắc nghiệt, đối diện hàng ngày, hàng giờ với mất mát, hy sinh, cán bộ, chiến sĩ tuyến vận tải trên biển mang tên Hồ Chí Minh đã làm nên kỳ tích và huyền thoại.
1. Mở đường vì miền Nam ruột thịt
Cuộc kháng chiến bền bỉ, gian khổ 9 năm chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân Việt Nam kết thúc, song đất nước vẫn chịu nỗi đau chia cắt. Sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam chưa hoàn thành. Cuộc đấu tranh vì nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân chủ, hoà bình ngày càng trở nên gay go, quyết liệt. Chính sự đàn áp, trả thù, khủng bố, ruồng ráp, giam cầm, tra tấn của kẻ thù đã củng cố sắt son thêm ý chí chiến đấu của đồng bào miền Nam, làm bùng lên những làn sóng đấu tranh mạnh mẽ, tạo ra những điều kiện chín muồi để chuyển cách mạng miền Nam từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công. Bắt mạch tình hình đó, Hội nghị lần thứ 15 (khoá II, 1 -1959) dưới sự chủ tọa của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra nghị quyết lịch sử, xác định: "Kiên quyết đấu tranh để giữ vững hòa bình, thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ, hoàn thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước"[1].

Thứ Hai, 19 tháng 8, 2013

HẬU PHƯƠNG MIỀN BẮC TRONG SỰ NGHIỆP KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC (1954-1975)


                     PGS, TS HỒ KHANG
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam
           Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đối thủ của nhân dân Việt Nam là đế quốc Mỹ - đế quốc mạnh nhất hành tinh. Để đương đầu và đánh bại kẻ thù xâm lược, nhất định dân tộc Việt Nam phải mạnh lên. Muốn vậy, ngoài đường lối kháng chiến đúng đắn, cần phải có đường lối và biện pháp xây dựng, bảo vệ hậu phương nhằm tạo nên sức mạnh cần thiết ấy.
          Ngay sau khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc, miền Bắc sạch bóng quân xâm lược, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 (khoá II) đã nhận định: “Miền Bắc là chỗ đứng của ta. Bất kể trong tình hình nào, miền Bắc cũng phải được cũng cố”1. Tiếp đó, phát biểu trong Đại hội Mặt trận dân tộc thống nhất toàn quốc (tháng 9 -1955), Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Miền Bắc là nền tảng, là gốc rễ lực lượng đấu tranh của nhân dân ta. Nền có vững, nhà mới chắc. Gốc có mạnh cây mới tốt”2. Để cũng cố miền Bắc thành nền gốc cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà, Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ III, năm 1960, đã chủ trương phải tiến hành cách mạng XHCN ở miền Bắc; cách mạng XHCN ở miền Bắc gắn bó chặt chẽ với cách mạng DTDCND ở miền Nam và giữ vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển của toàn bộ sự nghiệp cách mạng của cả nước, đối với cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà; còn cách mạng miền nam có một vị trí rất quan trọng, có tác dụng quyết định trực tiếp đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam.

Thứ Bảy, 17 tháng 8, 2013

VIỆT NAM ĐỘC LẬP, TỰ CHỦ THỰC HIỆN SÁCH LƯỢC “ĐÁNH – ĐÀM” (1967-1972)


 PGS.TS. Hồ Khang
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam
Trong chiến tranh, quan hệ giữa quân sự và ngoại giao luôn là mối quan hệ chặt chẽ, quy định và chi phối lẫn nhau. Trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam, quan hệ giữa giành thắng lợi quyết định trên chiến trường và củng cố, mở rộng thắng lợi đó bằng hoạt động ngoại giao thể hiện đậm nét qua thế đánh- đàm – một trong những sách lược tiến hành chiến tranh độc đáo đạt tới tầm nghệ thuật. Tuy nhiên, trước những phức tạp của bàn cờ chính trị thế giới tác động trực tiếp tới chiến tranh Việt Nam, bộ não lãnh đạo cách mạng Việt Nam đã phải hết sức mềm dẻo, khéo léo, kiên quyết và bản lĩnh để thực hiện sách lược “vừa đánh, vừa đàm”.
1. Bước ngoặt của cuộc kháng chiến và sách lược đánh - đàm
Sau “sự kiện Vịnh Bắc Bộ”, chiến tranh Việt Nam bước vào giai đoạn khốc liệt. Dựa vào ưu thế quân sự của cường quốc, Mỹ tuyên bố: “Đẩy lùi miền Bắc Việt Nam trở lại thời kỳ đồ đá”. 

Thứ Sáu, 16 tháng 8, 2013

CHIẾN THẮNG ĐƯỜNG 9- NAM LÀO VÀ CUỘC ĐẦU TRANH NGOẠI GIAO TRONG NĂM 1971


PGS, TS Hồ Khang
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam
Trong chiến tranh, quan hệ giữa quân sự và ngoại giao luôn là mối quan hệ chặt chẽ, quy định và chi phối lẫn nhau. Quan hệ giữa giành thắng lợi quyết định trên chiến trường và củng cố, mở rộng thắng lợi đó bằng hoạt động ngoại giao thể hiện đậm nét trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước qua thế đánh- đàm sau thắng lợi của chiến dịch phản công Đường 9- Nam Lào (1971). Thắng lợi này đã đã thúc đẩy đấu tranh ngoại giao phát triển lên những bước mới, phát huy hiệu quả tối ưu trên các bình diện khác nhau của mặt trận ngoại giao và quân sự.
1. Hình thành thế vừa đánh, vừa đàm
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, gắn kết chặt chẽ hai mặt đấu tranh quân sự - đấu tranh ngoại giao đã trở thành truyền thống, được nâng lên ở tầm nghệ thuật – nghệ thuật của sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa đấu tranh quân sự kiên cường với đấu tranh ngoại giao mềm dẻo, linh hoạt; lấy thắng lợi quân sự thúc đẩy đấu tranh ngoại giao, sử dụng đấu tranh ngoại giao để củng cố, mở rộng, nhân lên thắng lợi quân sự. Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nghệ thuật kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh ngoại giao, tạo thế đánh, đàm thực sự là một nét độc đáo, in đậm dấu ấn vào kho tàng nghệ thuật quân sự Việt Nam.
Năm 1965, khi đưa quân trực tiếp xâm lược miền Nam và tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ nhất, đế quốc Mỹ đã tiến hành nhiều cuộc vận động ngoại giao, gọi là để giải quyết vấn đề Việt Nam, song lại đòi phía Việt Nam thương lượng không điều kiện (!). Lúc này, Đảng nhấn mạnh hai nhiệm vụ song trùng: 1). Quyết tâm chiến đấu chống đế quốc Mỹ xâm lược; 2). Đập lại mọi luận điệu hoà bình giả hiệu, đòi thương lượng không điều kiện của đế quốc Mỹ. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng đã tính đến việc đưa Mỹ vào cục diện vừa đánh, vừa đàm và việc chọn đúng thời điểm là cả một vấn đề nghệ thuật. Quá trình đó diễn ra như sau:

IA ĐRĂNG - “TRẬN ĐÁNH LÀM THAY ĐỔI CUỘC CHIẾN TRANH”

                                                                   PGS, TS. HỒ KHANG*
Trong lịch sử cuộc chiến tranh giữa Mỹ và Việt Nam (1954 - 1975), chiến dịch Plây Me - hoặc chiến dịch thung lũng Ia Đrăng như một số sách báo thường viết, được biết tới như một trận chiến đẫm máu giữa lực lượng chính quy của hai quốc gia Hoa Kỳ và Việt Nam dân chủ cộng hoà vào mùa thu năm 1965 tại vùng thung lũng, dưới chân núi Chư Pông ngút ngàn cây cối với những bãi cỏ rộng xen kẽ nương rẫy của đồng bào dân tộc rất thuận lợi cho việc đổ quân và ém giấu lực lượng ở phía Tây Nam thị xã Plây Ku. Thời điểm diễn ra cuộc chiến tranh, toan tính của mỗi bên cũng như mức độ quyết liệt của cuộc giao tranh này và những tác động sau đó của nó đã là những nhân tố tạo nên tính "cột mốc" của chiến dịch Plây Me  - một chiến dịch đã làm "thay đổi cuộc chiến tranh ở Việt Nam" như nhìn nhận của Ha-rôn G.Mo-rơ (Harold G Moore) và Giô-dép Ga-lô-uây (Joseph L Galloway) trong cuốn sách Đã một thời chúng tôi là người lính...và trẻ trung1.

CUỘC TIẾN CÔNG CHIẾN LƯỢC NĂM 1972 VÀ BƯỚC NGOẶT TRÊN BÀN ĐÀM PHÁN HỘI NGHỊ PARIS


PGS,TS. Hồ Khang
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam
Năm 1971 là năm đánh dấu sự cố gắng cao nhất của chính quyền R. Nixon trên chiến trường Đông Dương. Huy động lực lượng lớn của quân đội Sài Gòn, với sự phối hợp chiến đấu của không quân và lục quân Mỹ, địch mở cuộc phiêu lưu quân sự ra chiến trường đường 9 - Nam Lào, đi đôi với các cuộc hành quân lên Đông Bắc Campuchia và ở vùng Tây Nguyên Việt Nam. Tuy nhiên, các cuộc hành quân, đặc biệt là cuộc hành quân lớn nhất ở đường 9 - Nam Lào đã thất bại thảm hại, khiến lực lượng quân sự của địch trên chiến trường giảm sút về số lượng, tinh thần suy yếu. Quân đội Sài Gòn cũng như quân đội tay sai ở Campuchia và Lào ngày càng bị cô lập, mâu thuẫn. Sự lục đục, bất hòa trong tập đoàn lãnh đạo Sài Gòn cũng ngày một gay gắt, nhất là giữa Thiệu và Kỳ. Ở các đô thị lớn của miền Nam (Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế..) và phần lớn các thành thị, phong trào đấu tranh diễn ra khá sôi nổi, mục tiêu đấu tranh   đấu tranh cao hơn - đòi lật đổ chính quyền Thiệu, chống bầu cử gian lận, đòi quân Mỹ rút về nước, kết hợp với các yêu cầu dân chủ, dân sinh, bằng “nhiều hình thức phong phú, có khí thế tiến công, đánh dấu một bước biến chuyển về chất lượng”[1], khiến hậu phương, hậu cứ của chính quyền và quân đội Sài Gòn luôn bất ổn. Những thắng lợi to lớn trên mặt trận quân sự và chính trị trên chiến trường Đông Dương đã làm bùng phát các phong trào đấu tranh của nhân dân thế giới, nhân dân tiến bộ Mỹ, đòi chấm dứt chiến tranh xâm lược Việt Nam, tác động trực tiếp đến chính trường nước Mỹ, khiến nội bộ chính quyền Mỹ bị chia rẽ nghiêm trọng[2] trước cuộc bầu cử Tổng thống vào năm 1972. Có thể nhận thấy rằng, những nỗ lực bao vây, cô lập và bóp nghẹt phong trào cách mạng miền Nam của Mỹ đã bị thất bại; chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" đã bị đẩy lùi một bước căn bản. Mặc dù vậy, cuộc đám phán ở Hội nghị Paris vẫn đang bế tắc, vì Mỹ vẫn muốn vớt vát để đàm phán trên thế mạnh và kết thúc chiến tranh có lợi nhất có thể.