Thứ Bảy, 28 tháng 12, 2013

KẾT THÚC MỘT CUỘC CHIẾN TRANH



TRẦN BẠCH ĐẰNG
Ngày 30 tháng 4 năm 1975, cuộc chiến tranh ở Việt Nam kết thúc - về thời gian, với từng địa phương ở miền Nam, ngày giờ kết thúc có xê dịch ít nhiều, song chúng ta và cả thế giới đều lấy ngày 30.4 làm thời điểm bởi đó là ngày Thành phố Sài Gòn, thủ đô của chính quyền do Mỹ dựng lên, được giải phóng. Nghĩa là, nơi đặt đầu não chiến tranh của kẻ thù đã đổi chủ, chính quyền Trung ương của kẻ thù đã sụp đổ. Những đề kháng còn lại đây đó không mang ý nghĩa toàn cục nữa và tất yếu sẽ tan vỡ.

Thứ Bảy, 21 tháng 12, 2013

MỞ ĐƯỜNG HỒ CHÍ MINH – MỘT QUYẾT ĐỊNH LỊCH SỬ



PGS, TS Hồ Khang
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam
Tròn nửa thế kỷ trước đây, giữa những ngày phía bên kia vĩ tuyến 17, cả miền Nam đang ngập chìm trong đau thương và uất hận do chính sách và hành động phát xít tàn sát dã man những người yêu nước, những người “kháng chiến cũ” của quân thù, tại Thủ đô Hà Nội, Đảng CSVN và Chủ tịch Hồ Chí Minh đi đến quyết định thành lập tuyến giao liên quân sự trên bộ và trên biển chi viện cho cách mạng miền Nam. Đó là một quyết định lịch sử; quyết định đó nằm trong tổng thể một loạt các giải pháp tầm chiến lược được đưa ra của Đảng, nhằm tiếp tục đẩy mạnh cuộc chiến tranh yêu nước của nhân dân miền Nam, hoàn thành thắng lợi sự nghiệp giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất đất nước trong những điều kiện mới, vừa thuận lợi nhưng cũng lắm chông gai phức tạp, xét trên bình diện tình hình trong nước, trong khu vực và trên thế giới có liên quan đến sự nghiệp cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ.

Thứ Sáu, 13 tháng 12, 2013

GÓP BÀN VỀ NGÀY GIẢI PHÒNG THỪA THIÊN – HUẾ XUÂN 1975



Trần Vĩnh Tường*
Hàng năm, cứ đến dịp ngày 26 tháng 3, nhân dân Thừa Thiên-Huế nô nức tổ chức nhiều hoạt động kỷ niệm như một sinh hoạt tinh thần đầy ý nghĩa. Đây không chỉ là hoạt động kỷ niệm mang tính chính trị, mà đã trở thành nét văn hóa của người dân xứ Huế… Tuy nhiên, có một vấn đề đặt ra là, trong thực tế, Thừa Thiên-Huế được giải phóng vào ngày nào, ngày 26 hay ngày 25 tháng 3 năm 1975? Thiết nghĩ, với lịch sử cần phải khách quan và công bằng. Trên tinh thần đó, tôi xin có đôi điều, mong góp phần xác định thêm cho rõ ngày giải phóng Thừa Thiên-Huế.

Chủ Nhật, 24 tháng 11, 2013

35 NĂM NHÌN LẠI “SỰ KIỆN LỊCH SỬ 7-1-1979” TRONG QUAN HỆ VIỆT NAM – CAMPUCHIA


PGS, TS. Hồ Khang
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam
Cùng nằm trên bán đảo Đông Dương, cùng uống chung dòng nước ngọt ngào của sông Mê Kông, cùng tựa lưng vào dãy núi Trường Sơn hùng vĩ, có những nét lịch sử - văn hóa tương đồng, Việt Nam và Campuchia sớm có mối quan hệ mật thiết, máu thịt. Hình thành trong những năm tháng gian nan dựng nước và giữ nước, trải qua những thăng trầm lịch sử, như “lửa đã thử vàng”, quan hệ Việt Nam – Campuchia là mối quan hệ chiến lược, gắn bó bền chặt một cách tự nhiên.

Thứ Năm, 21 tháng 11, 2013

VIỆN TRỢ QUÂN SỰ CỦA CÁC NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA CHO VIỆT NAM TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC (1954 - 1975)


Thiếu tá, ThS. NGUYỄN VĂN QUYỀN*
Thắng lợi vĩ đại của dân tộc ta mùa Xuân 1975 là thành quả tổng hợp của nhiều nhân tố chủ quan và khách quan, trong nước và quốc tế. Bên cạnh sự lãnh đạo và chỉ đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng, sự nỗ lực vượt bậc của toàn thể quân và dân ta trong suốt những năm đương đầu chống lại cuộc chiến tranh khốc liệt do đế quốc Mỹ gây ra, chúng ta không thể không kể tới sự giúp đỡ to lớn về mặt vật chất kỹ thuật - hậu cần của bạn bè quốc tế, đặc biệt là từ các nước XHCN. Đảng ta, coi: "… đó là một nhân tố quan trọng góp phần quyết định vào thắng lợi của nhân dân ta"[1].

Thứ Tư, 20 tháng 11, 2013

TIẾP NHẬN VÀ SỬ DỤNG NGUỒN CHI VIỆN CỦA LIÊN XÔ, TRUNG QUỐC VÀ CÁC NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG SỰ NGHIỆP CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC


Đại tá, Ths Trần Tiến Hoạt*
Thượng úy Lê Quang Lạng**
Vừa bước ra khỏi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1954), nhân dân ta lại phải đương đầu ngay với cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới của đế quốc Mỹ, mà theo Đảng ta nhận định sẽ còn phức tạp, ác liệt gấp nhiều lần cuộc kháng chiến trước đây. Để tiếp tục lãnh đạo toàn quân, toàn dân ta tiến hành cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ - cường quốc hàng đầu trong phe Tư bản chủ nghĩa, có sức mạnh quân sự, kinh tế hơn ta gấp nhiều lần, Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh với đường lối và phương pháp cách mạng đúng đắn, sáng tạo, đã chủ trương tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng: cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam nhằm mục tiêu chung là đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào, giải phóng hòan toàn miền Nam, thực hiện thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Thứ Bảy, 16 tháng 11, 2013

HOẠT ĐỘNG QUÂN SỰ TRONG CÁCH MẠNG THÁNG TÁM ĐÃ DIỄN RA NHƯ THẾ NÀO? TA CÓ THỔI PHỒNG HAY BÓP MÉO SỰ THẬT KHÔNG?



Văn Tạo
Tôi được Viện Lịch sử quân sự Việt Nam mời viết tập IX bộ Lịch sử quân sự Việt Nam, về thời kỳ "Vận động Cách mạng Tháng Tám". Mừng vì trong lòng đã ấp ủ từ lâu một mong muốn làm rõ vấn đề là: Vai trò của lực lượng quân sự trong Cách mạng Tháng Tám. Cũng bởi có người coi Cách mạng Tháng Tám đã diễn ra một cách "hoà bình", "ít đổ máu" nên vai trò của hoạt động vũ trang là không đáng kể.
Nhưng lúc đầu cũng e rằng "lực bất tòng tâm" vì tuổi đã già, lại không đi sưu tầm được thêm tài liệu. Chỉ nói tài liệu ở trong nước chứ chưa nói tới khối lượng tài liệu đồ sộ ở nước ngoài như ở Nhật, Pháp, Mỹ, Trung Quốc... mà tôi không có điều kiện tiếp cận được.

Thứ Hai, 4 tháng 11, 2013

NHỮNG SUY NGHĨ VỀ “MIỀN ĐẤT LỬA” VĨNH LINH THỜI CHỐNG MỸ


PGS. TS Hồ Khang
Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam
P. Nora[1], sử gia người Pháp, từng nhận định rất đúng: có hai thứ lịch sử. Loại thứ nhất là lịch sử trong trí tuệ thuần túy, thứ lịch sử chỉ còn lưu lại trong sách vở, bị lãng quên, bị phân giải thành những thông tin mất hết sức sống của nó. Loại thứ hai, trái lại, trở thành ký ức, trở thành cái cấu tạo nên tinh thần của đời sống thực tại. Nhắc lại lịch sử “miền đất lửa” Vĩnh Linh những tháng năm toàn dân tộc gồng mình đánh Mỹ vì nền độc lập, tự do, thống nhất đất nước chính là nói đến cái lịch sử - ký ức đó. Bởi lẽ, với tất cả những gì từng diễn ra trên vùng đất này những ngày năm xưa ấy,Vĩnh Linh có đủ trong nó tư cách của một chiến trường khốc liệt, một tuyến đầu của hậu phương miền Bắc, một hậu phương trực tiếp của tiền tuyến miền Nam, một địa danh tạc vào lịch sử hiện đại như một biểu tượng cho của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam thời chống Mỹ.

Thứ Năm, 31 tháng 10, 2013

Sửa lại đúng – bàn thêm cho rõ: TRƯỜNG QUÂN SỰ HOÀNG PHỐ VÀ VIỆC ĐÀO TẠO NHỮNG CÁN BỘ QUÂN SỰ CÁCH MẠNG ĐẦU TIÊN CỦA VIỆT NAM*



PGS, TS. Phạm Xanh
Sau Đại hội V của Quốc tế Cộng sản, trong một buổi tiếp thân mật Nguyễn Ái Quốc, đồng chí Manuinski, ủy viên Đoàn Chủ tịch Quốc tế Cộng sản đã thông báo quyết định của Quốc tế Cộng sản cử Người tới Quảng Châu công tác với nhiệm vụ chủ yếu là chuẩn bị về mặt chính trị - tư tưởng và tổ chức để tiến tới xây dựng một đảng cộng sản ở Đông Dương và giúp đỡ các đại biểu cách mạng của các nước khác ở Đông Nam Á. Từ đó, Nguyễn Ái Quốc tích cực chuẩn bị cho chuyến công tác xa - xích gần lại quê hương mình. Nguyễn Ái Quốc tới Quảng Châu ngày 11 tháng 11 năm 1924. Hồi đó, Quảng Châu là trung tâm cách mạng của Trung Quốc. Người dân ở đây đang sống trong bầu không khí của ngày hội cách mạng. "Thật khó mà miêu tả Quảng Châu trong những ngày đó. ở đây có cái gì đó tựa như năm 1917 không bao giờ quên ở nước Nga vậy. Tôi luôn luôn có cảm giác rằng ngôn ngữ loài người còn quá nghèo nàn để có thể diễn đạt hết sức mạnh của tình cảm: phẫn nộ và sung sướng, yêu thương và căm giận của quần chúng nhân dân tràn ra trên các đường phố và quảng trường..."[1].

Thứ Tư, 30 tháng 10, 2013

LIÊN QUÂN LÀO - VIỆT PHỐI HỢP CHIẾN ĐẤU TRONG CHIẾN DỊCH PHÒNG NGỰ CÁNH ĐỒNG CHUM – XIÊNG KHOẢNG (1972)


PGS.TS. Hồ Khang
 Viện Lịch sử quân sự
Cùng uống chung dòng nước ngọt ngào của sông Mê Kong, cùng tựa lưng vào dãy núi Trường Sơn – Phù Luổng hùng vĩ và trong trường kỳ giữ nước luôn phải đối mặt với những kẻ thù chung, nên vì thế, liên minh chiến đấu Việt – Lào trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc hình thành một cách tự nhiên như chính yêu cầu của lịch sử. Qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, liên minh chiến đấu Việt – Lào ngày càng được củng cố bền chặt, gắn liền với những chiến công vang dội trên chiến trường, mà một trong những chiến công như thế là chiến dịch phòng ngự cánh đồng Chum – Xiêng Khoảng năm 1972.

Thứ Bảy, 26 tháng 10, 2013

TÂY BẮC - ĐIỆN BIÊN - TẦM NHÌN CHIẾN LƯỢC CỦA ĐẢNG LAO ĐỘNG VIỆT NAM


Đại tá Nguyễn Huy Cầu
Đại tá. PGS. TS. Hồ Khang
 Sau những năm dài kháng chiến, đến 1953 – 1954, miền Tây Bắc điệp trùng đồi núi của Tổ quốc trở thành chiến trường chính trong cuộc chiến tranh giữa thực dân Pháp, can thiệp Mỹ với nhân dân Việt Nam. Tại đây, quân dân Việt Nam đã làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ “chấn động địa cầu”, đánh sập ý chí xâm lược của thực dân Pháp. Nhưng tại sao đến mùa khô 1953 – 1954, Tây Bắc mới trở thành nơi định đoạt số phận cuộc chiến Đông Dương lần thứ nhất? Để lý giải, phải xem xét diễn biến tình hình liên quan tới cuộc chiến cũng như sự chỉ đạo tầm chiến lược của Đảng LĐVN đối với toàn cục và đối với chiến trường Tây Bắc trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.
Với kinh nghiệm xâm lược và thống trị Đông Dương hàng chục năm trước đó, nên trong cuộc chiến tranh xâm lược lần 2 (1945 – 1954), phía Pháp, ngay từ đầu, đã hiểu rõ và triệt để lợi dụng tầm quan trọng của vùng Tây Bắc Việt Nam nhằm phục vụ cho cuộc chiến tranh tái chiếm Đông Dương.

Thứ Ba, 22 tháng 10, 2013

HỒ CHÍ MINH VỚI SỰ NGHIỆP GIẢI PHÓNG MIỀN NAM, THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC


PGS.TS. Hồ Khang
Viện Lịch sử quân sự, Bộ Quốc phòng
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, độc lập, tự do là tư tưởng cốt lõi, là hạt nhân, là nền tảng quan trọng, cơ bản nhất cho các quan điểm, tư tưởng chính trị của Người. Tư tưởng ấy đã được cách mạng Việt Nam kiểm chứng, được lịch sử giải phóng dân tộc trên thế giới khẳng định. Trong suốt những năm tháng đấu tranh cách mạng cho độc lập của dân tộc, tự do của nhân dân, tư tưởng độc lập, tự do của Hồ Chí Minh không bao giờ tách rời ý niệm về một đất nước Việt Nam toàn vẹn, thống nhất. Trên cả bình diện lý luận, lẫn thực tiễn, tư tưởng độc lập, tự do, toàn vẹn lãnh thổ của Hồ Chí Minh luôn soi rọi con đường giải phóng Tổ quốc, thống nhất đất nước của dân tộc Việt Nam.

Thứ Bảy, 19 tháng 10, 2013

VỀ CON ĐƯỜNG ĐẾN VỚI NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ CHIẾN TRANH HIỆN ĐẠI (PGS.TS Hồ Khang)


PGS.TS Hồ Khang
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam
Lý do chọn nghiên cứu mảng đề tài chiến tranh, đặc biệt là chiến tranh thời kỳ hiện đại
Tôi thường suy nghĩ về việc nghiên cứu lịch sử, hãy nói một chút về việc nghiên cứu lịch sử. Nghiên cứu lịch sử là nhằm tới việc đưa ra những tri thức lịch sử, giúp chúng ta giải mã chính mình và giải quyết những vấn đề đang đặt ra đối với chủ thể của lịch sử ấy. Trên ý nghĩa đó, nghiên cứu lịch sử cũng chính là cuộc đối thoại bất tận giữa hiện tại với quá khứ. Tôi cho rằng, tri thức lịch sử phải là sự nối kết cái đương thời với cái đã qua như thế. Trên hết, cuộc đối thoại đó xảy ra vì tương lai, vì những gì mà chủ thể của lịch sử  - dù là con người, giai cấp, các cộng đoàn tôn giáo chính trị hay dân tộc, nhân loại,… sẽ còn phải đi đến, đối mặt và trở thành. Vì chúng ta đã không còn ngạc nhiên rằng, người nào thiếu hiểu biết về lịch sử, người đó rất có thể sẽ lặp lại những sai lầm lịch sử một lần nữa.

ĐẠO ĐỨC DA CAM


PGS,TS. Hồ Khang
Viện lịch sử quân sự Việt Nam
Đi qua chiến tranh, mà có thể ngay trong chiến tranh nữa, người ta thấy rằng sự thử thách của đạo đức cũng quan trọng như sự thử thách về sức mạnh, niềm tin và trí tuệ. Huân chương được gắn trước ngực những người chiến thắng chính để nhắc nhở rằng chiến thắng cũng nằm nơi trái tim và lương tâm. Trong thời đại nhân loại tiến đến sự đồng thuận về lương tri và con người, việc nhắc lại chiến tranh, tội ác và đạo đức là cần thiết: bởi vì lịch sử thường tàn nhẫn để lại những người gánh chịu hậu quả khắc nghiệt của chiến tranh, trong khi cuộc sống đời thường của họ lại là nỗi đau không thể xóa nhòa của quá khứ. Những nạn nhân nhiễm chất độc da cam người Việt Nam ngày nay chính là minh chứng đau lòng về cuộc sống đời thường như thế. Họ không có thời gian để suy nghĩ, hoặc không thể suy nghĩ, về chiến tranh hay đạo đức, trước cuộc sống ngày qua ngày chật vật.

Thứ Sáu, 18 tháng 10, 2013

Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ: VỀ CÁC ĐƠN VỊ VÀ SỐ LƯỢNG QUÂN TRUNG HOA DÂN QUỐC VÀO MIỀN BẮC CUỐI NĂM 1945


Năm 1989, trước yêu cầu đổi mới trong nghiên cứu lịch sử, bắt đầu từ số 37 (3-1989), Tạp chí Lịch sử quân sự (LSQS) mở chuyên mục "Sửa lại cho đúng - bàn thêm cho rõ". Từ đó cho đến nay, cứ đều đặn trên các số, với chuyên mục này, Tạp chí đã đăng tải hơn 200 bài viết liên quan đến các vấn đề lịch sử chiến tranh, lịch sử nghệ thuật quân sự Việt Nam, lịch sử quân sự thế giới, lịch sử tổ chức quân sự qua các thời kỳ từ cổ đại đến hiện đại. Đúng như tên gọi của nó, chuyên mục này đã góp phần trả lại sự thật hoặc làm sáng tỏ thêm một số sự kiện và nhân vật liên quan đến LSQS nói riêng, lịch sử nói chung. Lịch sử là một dòng chảy liên tục. Thời gian càng lùi xa, càng có điều kiện để nhìn nhận lại và tiếp cận tới sự thật lịch sử một cách khách quan, thấu đáo hơn. Chúng tôi xin chọn lọc, đăng trích một số bài từ cuốn "Sửa lại cho đúng - bàn thêm cho rõ" (tuyển chọn từ Tạp chí Lịch sử quân sự).

Chủ Nhật, 6 tháng 10, 2013

MIẾN NAM TRONG TƯ TƯỞNG VÀ TÌNH CẢM CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH


PGS,TS.Hồ Khang
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam
Dẫn nhập
Hơn 20 năm sau khi cuộc chiến tranh ở Việt Nam kết thúc, trong tác phẩm Nhìn lại quá khứ, tấn thảm kịch và bài học Việt Nam, Mc Namara, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, người đã phục vụ qua hai đời Tổng thống Ken-nơ-đi và Giôn-xơn, đã thừa nhận rằng nước Mỹ “không nhận ra được những hạn chế của các thiết bị quân sự trong sự đối đầu với những trào lưu nhân dân được thúc đẩy cao”… “đánh giá thấp sức mạnh của chủ nghĩa dân tộc thúc đẩu Việt Nam đấu tranh và hi sinh cho lý tưởng và các giá trị của nó”. Nhận xét này, dù còn phiến diện, phần nào đã chạm tới sự thực: sức mạnh của lòng yêu nước, của “trào lưu nhân dân được thúc đẩy cao” mà thực chất là khối đại đoàn kết toàn dân, được tập hợp dưới ngọn cờ của Đảng Cộng sản Việt Nam đứng đầu là Hồ Chí Minh.

Thứ Bảy, 5 tháng 10, 2013

NHẬN ĐỊNH CỦA GIỚI SỬ HỌC PHƯƠNG TÂY VỀ CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY TẾT MẬU THÂN 1968*


TS. PHAN VĂN HOÀNG**
Khi nghiên cứu cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam, giới sử học phương Tây đều nhất trí nhận định tầm quan trọng của cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 mà họ gọi là “cuộc tiến công Tết” hay – ngắn gọn hơn – “Tết”. Chẳng hạn: Đây là “những trận đánh đẫm máu nhất của chiến tranh” (George C. Herring) (1), đây là “một trong những trận đánh có tính quyết định nhất trong lịch sử nước Mỹ” (Phillip B. Davidson) (2), đây là một trong “những trận đánh có tính quyết định nhất của thế kỷ XX” (Noble Frankland và Christopher Dowling) (3)…
Trong các cuốn sách của họ, họ thường dành một chương để đề cập đến sự kiện lịch sử này. Một vài tác giả viết hẳn một cuốn sách, như The Tet Offensive – Intelligence Failure in War (của James J. Wirtz, xuất bản tại New York năm 1991), After Tet – The Bloodiest Year in Vietnam (của Ronald H. Spector, xuất bản tại New York năm 1993)…

Thứ Ba, 24 tháng 9, 2013

TÂY NGUYÊN - ĐÒN QUYẾT CHIẾN MỞ ĐẦU ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN 1975




PGS,TS. Hồ Khang
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam
          Sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc Việt Nam, cho đến năm 1974, đã trải qua chặng đường dài hai mươi năm với biết bao gian khổ hy sinh vì nền tự do, độc lập và vẹn toàn sông núi của Tổ quốc Việt Nam. Trong khoảng thời gian đó, vượt qua những thử thách sống còn, triệu người như một đã bền lòng chiến đấu, vững tin vào thắng lợi cuối cùng, đưa sự nghiệp đại nghĩa thống nhất non sông về một mối đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác mà Đồng khởi mùa Xuân 1960, Tết Mậu Thân 1968, cuộc tiến công chiến lược năm 1972 và “Điện Biên Phủ trên không” là những dấu mốc quan trọng. Những thắng lợi to lớn và toàn diện trên chiến trường của toàn quân và dân Việt Nam đã buộc đối phương phải ký kết Hiệp định Pari mà ý nghĩa cơ bản nhất của sự kiện quan trọng này là “Mỹ phải ra, quân ta thì ở lại”, mở ra giai doạn cuối cùng của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Thứ Hai, 23 tháng 9, 2013

CÁC KHUYNH HƯỚNG SỬ HỌC TRONG THẾ KỶ XIX VÀ XX


PGS.TS. Hoàng Hồng
ĐHKHXH&NV,ĐHQGHN
 Bài viết giới thiệu những luận điểm cơ bản về phương pháp luận sử học và triết học lịch sử của các khuynh hướng sử học chính đã xuất hiện và chi phối sử học thế giới trong thế kỷ XIX và XX.
1. Khuynh hướng Sử học khách quan
Nửa đầu thế kỉ XIX, những luận điểm của nhà sử học Đức Leopold von Ranke (1795-1886) về phương pháp luận sử học và triết học lịch sử đã có ảnh hưởng to lớn tới các nhà sử học ở châu Âu, đặc biệt là ở Đức và Pháp. Từ những luận điểm của ông, hình thành một khuynh hướng sử học tồn tại suốt nửa đầu thế kỷ XIX đó là khuynh hướng sử học khách quan.
Trong cuộc đời viết sử của mình, Ranke luôn nhấn mạnh đến sự “khách quan”. Nhà sử học - theo ông - không phải phán xét lịch sử mà nhiệm vụ của họ là tái tạo được các sự kiện lịch sử “như là nó đã xảy ra trong thực tế”.

Thứ Bảy, 21 tháng 9, 2013

Sửa lại cho đúng, bàn thêm cho rõ: THỬ TÌM “GIỜ G” CỦA TẾT MẬU THÂN

                                             LÊ THÀNH LÂN
     
I-Nhập đề
“Tìm giờ G của Tết Mậu Thân” là bài toán khó. Lời giải của nó thật sự cần thiết cho những nhà nghiên cứu lịch sử, nhất là lịch sử quân sự, những người đang nghiên cứu, bàn luận về sự kiện trọng đại này. Bốn mươi năm qua, dường như chưa có ai thử tìm một lời giải thỏa đáng, nhiều người không hề băn khoăn và vẫn tin rằng đó là “Đêm giao thừa” và không nhớ rõ là giao thừa nào. Nhiều người viết theo một lịch, nhưng khi ghi chú thêm bằng một lịch khác, thường lúng túng và hay viết sai. Chúng tôi căn cứ trên những tư liệu không mới, chỉ cố gắng phân tích theo lịch pháp và những suy luận với hy vọng tìm ra một lời giải khả dĩ. Đáp số thu được và trình bày ở đây có thể là khá bất ngờ, có thể đúng, có thể chưa hoàn toàn đúng, song hy vọng qua trao đổi chúng ta sẽ tiến dần đến một lời giải chính xác.    
Qua nghiên cứu và trao đổi, chúng tôi nhận thấy có một vài thông tin về Tết Mậu Thân tưởng như chắc chắn lại hoá ra không có căn cứ vì chúng đã đến với ta theo con đường “văn học-báo chí”, chúng được tô vẽ cho đẹp để đi vào lòng người, rồi từ cây bút này lan sang cây bút khác, khiến ta tưởng thật và tin vào điều đó. ở đây có hai việc: Một là, lấy thời điểm Bác Hồ đọc thơ chúc Tết làm hiệu lệnh chiến đấu. Câu chuyện rất “nên thơ”. Nhưng, ai cũng biết là đến Giao thừa, Bác Hồ sẽ đọc thơ chúc Tết.

CHIẾN THẮNG ĐƯỜNG 9 - KHE SANH XUÂN HÈ 1968


  PGS, TS. HỒ KHANG
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam
Cách đây hơn 40 năm, đã diễn ra trận chiến quyết liệt ở khu vực đường số 9 - Khe Sanh tại miền tây Quảng Trị giữa quân đội Mỹ và lực lượng vũ trang Quân giải phóng miền Nam. Mở màn trước đòn tiến công Tết Mậu thân 1968 đúng 10 ngày và kết thúc thắng lợi sau hơn 170 ngày đêm tấn công, vây hãm, giam chân một lực lượng lớn quân đội Mỹ, buộc quân Mỹ phải rút bỏ khỏi căn cứ lớn quan trọng sau những hao tổn nặng nề về sinh lực và phương tiện chiến tranh, chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh xuân hè 1968 của quân và dân miền Nam thuở ấy tạc vào lịch sử hiện đại Việt Nam như biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam thời đánh Mỹ. Khe Sanh, một vị trí có tầm quan trọng chiến lược ở miền núi phía tây tỉnh Quảng Trị, nằm trên cao nguyên mỗi chiều gần 10km.

Thứ Ba, 17 tháng 9, 2013

CHIẾN DỊCH BIÊN GIỚI 1950 - BƯỚC TIẾN MỚI CỦA LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN VIỆT NAM


PGS.TS. Hồ Khang
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam
Chiến thắng Biên giới Thu Đông 1950 là một trong những sự kiện lịch sử quan trọng của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) của nhân dân Việt Nam. Bằng chiến thắng đó, Việt Nam đã phá vỡ thế bị bao vây bốn mặt, đưa cuộc chiến đấu bước sang một giai đoạn phát triển mới. Gắn với chiến công này là sự phát triển của lực lượng vũ trang nhân dân ba thứ quân do Đảng CSVN[1], đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, rèn luyện, lãnh đạo.
1. Ngay sau khi Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, đứng trước nạn “thù trong, giặc ngoài” và nguy cơ của một cuộc chiến tranh mới mà Đảng CSVN đã lường định là sẽ vô cùng khó khăn, gian khổ, lâu dài và khốc liệt, Đảng CSVN, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lập tức đặt trọng tâm công việc quân sự là xây dựng và tăng cường lực lượng vũ trang.

GIÁ TRỊ CHIẾN LƯỢC GIẢI PHÓNG VÀ PHÁT TRIỂN DÂN TỘC VÌ ĐỘC LẬP TỰ DO CỦA HỒ CHÍ MINH




PGS. LÊ MẬU HÃN
 ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN
Tự do độc lập là quyền trời cho của mỗi dân tộc”-Hồ Chí Minh 
1. Giá trị phổ quát về quyền tự do độc lập của các dân tộc trên thế giới
Lịch sử hình thành và phát triển lâu dài của quốc gia dân tộc đã tạo ra cho dân Việt Nam một triết lý sống vô cùng quý báu. Đó là sự cố kết đùm bọc lẫn nhau, đoàn kết ngày càng bền chặt, có ý thức sâu sắc về chủ quyền cương vực quốc gia, có tinh thần đấu tranh bất khuất, làm chủ thiên nhiên, làm chủ đất nước, làm chủ xã hội. Hạt nhân của truyền thống lịch sử đó là chủ nghĩa dân tộc, ý chí độc lập và khát vọng tự do. Đó là cơ sở tư tưởng cho sự tồn tại và phát triển quốc gia dân tộc, là động lực vĩ đại trong cuộc chiến đấu, đánh bại âm mưu nô dịch và đồng hoá dân tộc Việt Nam của quân xâm lược ngoại bang. Song sức mạnh vô địch của dân tộc không phải lúc nào cũng phát huy thành hiện thực trong cuộc sống chiến đấu và thắng lợi. Vào giữa thế kỷ XIX, chế độ phong kiến Việt Nam đã đi vào sự tột cùng của khủng hoảng và suy tàn thì thực dân Pháp đã nổ súng xâm lược và thống trị, biến Việt Nam từ một quốc gia độc lập thành thuộc địa của chúng. Mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với đế quốc thực dân Pháp trở thành mâu thuẫn cơ bản, chủ yếu và diễn ra ngày càng gay gắt.

Thứ Bảy, 14 tháng 9, 2013

VẬN ĐỘNG, ĐẤU TRANH NGOẠI GIAO VÀ ĐÒN TIẾN CÔNG CHIẾN LƯỢC MẬU THÂN 1968


PGS,TS. Hồ Khang
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam
Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy "Tết Mậu thân" 1968 của quân và dân Việt Nam, không chỉ sau này mà ngay từ ngày đó - khi chiến sự đang diễn ra ở khắp các đô thị trên toàn miền Nam, đã đưa lại những hậu quả và hệ lụy nặng nề cho phía Mỹ. Nó giáng đòn quyết định vào ý chí xâm lược của Mỹ sau bao năm theo đuổi chiến tranh Việt Nam, buộc Mỹ phải đơn phương "xuống thang", thay đổi chiến lược, rút dần quân Mỹ về nước... Để đi đến thắng lợi Tết Mậu thân 1968, cũng như phát huy thắng lợi ấy trong tiến trình cuộc kháng chiến, đặc biệt là đối với việc kéo Mỹ vào thế “đánh – đàm” có sự góp mặt tích cực của cuộc vận động, đấu tranh ngoại giao. Tham luận có mục tiêu làm rõ nội dung vận động, đấu tranh ngoại giao trước và sau sự kiện Tết 1968, làm rõ quan hệ giữa đấu tranh ngoại giao và quân sự đối với việc chuẩn bị điều kiện thuận lợi cho thực hiện và phát huy thắng lợi của đòn tiến công Mậu thân 1968, tạo bước ngoặt, thúc đẩy cuộc kháng chiến chống Mỹ nhanh chóng đi đến thắng lợi.
I. Chủ động mở ra cục diện “đánh – đàm” và ý đồ tiến công chiến lược năm 1968
Đến cuối năm 1966, mặc dù đã thực hiện thí điểm những chiến lược chiến tranh mới với phương tiện kỹ thuật hiện đại, song Mỹ vẫn không giành được những chiến thắng quân sự mang tính quyết định buộc Việt Nam ngồi vào bàn đàm phán.

Thứ Năm, 29 tháng 8, 2013

MỘT SỐ VẤN ĐỀ TRONG NGHIÊN CỨU, BIÊN SOẠN CÔNG TRÌNH LỊCH SỬ KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC


PGS.TS Hồ Khang
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam
Trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã phải tiến hành nhiều cuộc chiến tranh bảo vệ và giải phóng Tổ quốc. Quá nửa thời gian trong lịch sử hàng ngàn năm đó, các thế hệ người Việt Nam đã dồn tâm lực các hoạt động quân sự để phấn đấu cho độc lập, tự do. Cũng vì thế, mà so với nhiều quốc gia trên thế giới, lịch sử quân sự, lịch sử chiến tranh Việt Nam có bề dày và nhiều nét đặc sắc. Trong logic ấy, lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước luôn thu hút được sự quan tâm của giới nghiên cứu, thể hiện qua số lượng đồ sộ các công trình; đồng thời cũng đặt ra nhiều vấn đề cần luận bàn, đặc biệt là các vấn đề về phương pháp nghiên cứu, góc độ tiếp cận, tư liệu lịch sử, nội dung nghiên cứu … Bài viết này, trên cơ sở quan sát một số công trình viết về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước được xuất bản những năm qua ở Việt Nam, muốn đưa ra một số trao đổi nhỏ về phương pháp nghiên cứu.
1. Vấn đề đối tượng nghiên cứu và phân kỳ lịch sử
Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam mang tính chính nghĩa, cách mạng, toàn dân, toàn diện.., nhằm mục tiêu giải phóng dân tộc kết hợp chặt chẽ với giải phóng giai cấp và giải phóng nhân dân; kết hợp giữa độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội. Đối tượng của công trình lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là bản thân cuộc kháng chiến đó với toàn bộ quá trình phát sinh, phát triển và kết thúc của nó.

Thứ Tư, 28 tháng 8, 2013

ĐƯỜNG HỒ CHÍ MINH TRÊN BIỂN – TUYẾN VẬN TẢI CHIẾN LƯỢC HUYỀN THOẠI


PGS.TS. Hồ Khang
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam
Trong suốt 14 năm liên tục (1961-1975), đã tồn tại một tuyến vận tải đặc biệt với những tuyến, nhánh đường, bến bãi khắp các tỉnh ven biển miền Nam, len lỏi qua chiến trường Khu V khốc liệt vào đến tận cửa ngõ Sài Gòn, vận chuyển vũ khí chi viện đắc lực cho nhiều hướng chiến trường, nhiều chiến dịch lớn, nhiều địa bàn trọng yếu mà đường bộ chưa với tới. Vượt qua những thử thách khắc nghiệt, đối diện hàng ngày, hàng giờ với mất mát, hy sinh, cán bộ, chiến sĩ tuyến vận tải trên biển mang tên Hồ Chí Minh đã làm nên kỳ tích và huyền thoại.
1. Mở đường vì miền Nam ruột thịt
Cuộc kháng chiến bền bỉ, gian khổ 9 năm chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân Việt Nam kết thúc, song đất nước vẫn chịu nỗi đau chia cắt. Sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam chưa hoàn thành. Cuộc đấu tranh vì nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân chủ, hoà bình ngày càng trở nên gay go, quyết liệt. Chính sự đàn áp, trả thù, khủng bố, ruồng ráp, giam cầm, tra tấn của kẻ thù đã củng cố sắt son thêm ý chí chiến đấu của đồng bào miền Nam, làm bùng lên những làn sóng đấu tranh mạnh mẽ, tạo ra những điều kiện chín muồi để chuyển cách mạng miền Nam từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công. Bắt mạch tình hình đó, Hội nghị lần thứ 15 (khoá II, 1 -1959) dưới sự chủ tọa của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra nghị quyết lịch sử, xác định: "Kiên quyết đấu tranh để giữ vững hòa bình, thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ, hoàn thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước"[1].

Thứ Hai, 19 tháng 8, 2013

HẬU PHƯƠNG MIỀN BẮC TRONG SỰ NGHIỆP KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC (1954-1975)


                     PGS, TS HỒ KHANG
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam
           Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đối thủ của nhân dân Việt Nam là đế quốc Mỹ - đế quốc mạnh nhất hành tinh. Để đương đầu và đánh bại kẻ thù xâm lược, nhất định dân tộc Việt Nam phải mạnh lên. Muốn vậy, ngoài đường lối kháng chiến đúng đắn, cần phải có đường lối và biện pháp xây dựng, bảo vệ hậu phương nhằm tạo nên sức mạnh cần thiết ấy.
          Ngay sau khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc, miền Bắc sạch bóng quân xâm lược, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 (khoá II) đã nhận định: “Miền Bắc là chỗ đứng của ta. Bất kể trong tình hình nào, miền Bắc cũng phải được cũng cố”1. Tiếp đó, phát biểu trong Đại hội Mặt trận dân tộc thống nhất toàn quốc (tháng 9 -1955), Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Miền Bắc là nền tảng, là gốc rễ lực lượng đấu tranh của nhân dân ta. Nền có vững, nhà mới chắc. Gốc có mạnh cây mới tốt”2. Để cũng cố miền Bắc thành nền gốc cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà, Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ III, năm 1960, đã chủ trương phải tiến hành cách mạng XHCN ở miền Bắc; cách mạng XHCN ở miền Bắc gắn bó chặt chẽ với cách mạng DTDCND ở miền Nam và giữ vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển của toàn bộ sự nghiệp cách mạng của cả nước, đối với cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà; còn cách mạng miền nam có một vị trí rất quan trọng, có tác dụng quyết định trực tiếp đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam.

Thứ Bảy, 17 tháng 8, 2013

VIỆT NAM ĐỘC LẬP, TỰ CHỦ THỰC HIỆN SÁCH LƯỢC “ĐÁNH – ĐÀM” (1967-1972)


 PGS.TS. Hồ Khang
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam
Trong chiến tranh, quan hệ giữa quân sự và ngoại giao luôn là mối quan hệ chặt chẽ, quy định và chi phối lẫn nhau. Trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam, quan hệ giữa giành thắng lợi quyết định trên chiến trường và củng cố, mở rộng thắng lợi đó bằng hoạt động ngoại giao thể hiện đậm nét qua thế đánh- đàm – một trong những sách lược tiến hành chiến tranh độc đáo đạt tới tầm nghệ thuật. Tuy nhiên, trước những phức tạp của bàn cờ chính trị thế giới tác động trực tiếp tới chiến tranh Việt Nam, bộ não lãnh đạo cách mạng Việt Nam đã phải hết sức mềm dẻo, khéo léo, kiên quyết và bản lĩnh để thực hiện sách lược “vừa đánh, vừa đàm”.
1. Bước ngoặt của cuộc kháng chiến và sách lược đánh - đàm
Sau “sự kiện Vịnh Bắc Bộ”, chiến tranh Việt Nam bước vào giai đoạn khốc liệt. Dựa vào ưu thế quân sự của cường quốc, Mỹ tuyên bố: “Đẩy lùi miền Bắc Việt Nam trở lại thời kỳ đồ đá”. 

Thứ Sáu, 16 tháng 8, 2013

CHIẾN THẮNG ĐƯỜNG 9- NAM LÀO VÀ CUỘC ĐẦU TRANH NGOẠI GIAO TRONG NĂM 1971


PGS, TS Hồ Khang
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam
Trong chiến tranh, quan hệ giữa quân sự và ngoại giao luôn là mối quan hệ chặt chẽ, quy định và chi phối lẫn nhau. Quan hệ giữa giành thắng lợi quyết định trên chiến trường và củng cố, mở rộng thắng lợi đó bằng hoạt động ngoại giao thể hiện đậm nét trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước qua thế đánh- đàm sau thắng lợi của chiến dịch phản công Đường 9- Nam Lào (1971). Thắng lợi này đã đã thúc đẩy đấu tranh ngoại giao phát triển lên những bước mới, phát huy hiệu quả tối ưu trên các bình diện khác nhau của mặt trận ngoại giao và quân sự.
1. Hình thành thế vừa đánh, vừa đàm
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, gắn kết chặt chẽ hai mặt đấu tranh quân sự - đấu tranh ngoại giao đã trở thành truyền thống, được nâng lên ở tầm nghệ thuật – nghệ thuật của sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa đấu tranh quân sự kiên cường với đấu tranh ngoại giao mềm dẻo, linh hoạt; lấy thắng lợi quân sự thúc đẩy đấu tranh ngoại giao, sử dụng đấu tranh ngoại giao để củng cố, mở rộng, nhân lên thắng lợi quân sự. Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nghệ thuật kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh ngoại giao, tạo thế đánh, đàm thực sự là một nét độc đáo, in đậm dấu ấn vào kho tàng nghệ thuật quân sự Việt Nam.
Năm 1965, khi đưa quân trực tiếp xâm lược miền Nam và tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ nhất, đế quốc Mỹ đã tiến hành nhiều cuộc vận động ngoại giao, gọi là để giải quyết vấn đề Việt Nam, song lại đòi phía Việt Nam thương lượng không điều kiện (!). Lúc này, Đảng nhấn mạnh hai nhiệm vụ song trùng: 1). Quyết tâm chiến đấu chống đế quốc Mỹ xâm lược; 2). Đập lại mọi luận điệu hoà bình giả hiệu, đòi thương lượng không điều kiện của đế quốc Mỹ. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng đã tính đến việc đưa Mỹ vào cục diện vừa đánh, vừa đàm và việc chọn đúng thời điểm là cả một vấn đề nghệ thuật. Quá trình đó diễn ra như sau:

IA ĐRĂNG - “TRẬN ĐÁNH LÀM THAY ĐỔI CUỘC CHIẾN TRANH”

                                                                   PGS, TS. HỒ KHANG*
Trong lịch sử cuộc chiến tranh giữa Mỹ và Việt Nam (1954 - 1975), chiến dịch Plây Me - hoặc chiến dịch thung lũng Ia Đrăng như một số sách báo thường viết, được biết tới như một trận chiến đẫm máu giữa lực lượng chính quy của hai quốc gia Hoa Kỳ và Việt Nam dân chủ cộng hoà vào mùa thu năm 1965 tại vùng thung lũng, dưới chân núi Chư Pông ngút ngàn cây cối với những bãi cỏ rộng xen kẽ nương rẫy của đồng bào dân tộc rất thuận lợi cho việc đổ quân và ém giấu lực lượng ở phía Tây Nam thị xã Plây Ku. Thời điểm diễn ra cuộc chiến tranh, toan tính của mỗi bên cũng như mức độ quyết liệt của cuộc giao tranh này và những tác động sau đó của nó đã là những nhân tố tạo nên tính "cột mốc" của chiến dịch Plây Me  - một chiến dịch đã làm "thay đổi cuộc chiến tranh ở Việt Nam" như nhìn nhận của Ha-rôn G.Mo-rơ (Harold G Moore) và Giô-dép Ga-lô-uây (Joseph L Galloway) trong cuốn sách Đã một thời chúng tôi là người lính...và trẻ trung1.

CUỘC TIẾN CÔNG CHIẾN LƯỢC NĂM 1972 VÀ BƯỚC NGOẶT TRÊN BÀN ĐÀM PHÁN HỘI NGHỊ PARIS


PGS,TS. Hồ Khang
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam
Năm 1971 là năm đánh dấu sự cố gắng cao nhất của chính quyền R. Nixon trên chiến trường Đông Dương. Huy động lực lượng lớn của quân đội Sài Gòn, với sự phối hợp chiến đấu của không quân và lục quân Mỹ, địch mở cuộc phiêu lưu quân sự ra chiến trường đường 9 - Nam Lào, đi đôi với các cuộc hành quân lên Đông Bắc Campuchia và ở vùng Tây Nguyên Việt Nam. Tuy nhiên, các cuộc hành quân, đặc biệt là cuộc hành quân lớn nhất ở đường 9 - Nam Lào đã thất bại thảm hại, khiến lực lượng quân sự của địch trên chiến trường giảm sút về số lượng, tinh thần suy yếu. Quân đội Sài Gòn cũng như quân đội tay sai ở Campuchia và Lào ngày càng bị cô lập, mâu thuẫn. Sự lục đục, bất hòa trong tập đoàn lãnh đạo Sài Gòn cũng ngày một gay gắt, nhất là giữa Thiệu và Kỳ. Ở các đô thị lớn của miền Nam (Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế..) và phần lớn các thành thị, phong trào đấu tranh diễn ra khá sôi nổi, mục tiêu đấu tranh   đấu tranh cao hơn - đòi lật đổ chính quyền Thiệu, chống bầu cử gian lận, đòi quân Mỹ rút về nước, kết hợp với các yêu cầu dân chủ, dân sinh, bằng “nhiều hình thức phong phú, có khí thế tiến công, đánh dấu một bước biến chuyển về chất lượng”[1], khiến hậu phương, hậu cứ của chính quyền và quân đội Sài Gòn luôn bất ổn. Những thắng lợi to lớn trên mặt trận quân sự và chính trị trên chiến trường Đông Dương đã làm bùng phát các phong trào đấu tranh của nhân dân thế giới, nhân dân tiến bộ Mỹ, đòi chấm dứt chiến tranh xâm lược Việt Nam, tác động trực tiếp đến chính trường nước Mỹ, khiến nội bộ chính quyền Mỹ bị chia rẽ nghiêm trọng[2] trước cuộc bầu cử Tổng thống vào năm 1972. Có thể nhận thấy rằng, những nỗ lực bao vây, cô lập và bóp nghẹt phong trào cách mạng miền Nam của Mỹ đã bị thất bại; chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" đã bị đẩy lùi một bước căn bản. Mặc dù vậy, cuộc đám phán ở Hội nghị Paris vẫn đang bế tắc, vì Mỹ vẫn muốn vớt vát để đàm phán trên thế mạnh và kết thúc chiến tranh có lợi nhất có thể.